fbpx

BẢN SẮC SONG NGỮ CỦA SINH VIÊN THIỂU SỐ: GÓC NHÌN TỪ VIỆT NAM

Chúng ta ai cũng có khả năng song ngữ, hầu hết mọi người trong suốt cuộc đời đều có thể học các ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ ở nhiều mức độ khác nhau. Rõ ràng là khi học ngôn ngữ chúng ta không chỉ học con chữ cách phát âm mà còn tiếp thu văn hóa và tập quán khác. Vậy nên song ngữ luôn đồng hành cũng quá trình xã hội hóa. 

thaithanh do shishi nguyen roomtoread children vietnam 54 ethnic group
Tranh: Thai Thanh Do/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Bên cạnh nhóm ưu thế có tiếng mẹ đẻ là quốc ngữ và lựa chọn học thêm một ngoại ngữ để hội nhập quốc tế, nhóm dân tộc thiểu số có tiếng mẹ đẻ khác quốc ngữ, họ thường phải học thêm một loại ngôn ngữ phổ biến hơn trong đất nước họ để tiếp cận các nguồn lực về ngôn ngữ, lợi ích xã hội, và các cơ hội phát triển. Sự song ngữ phổ biến ở các cộng đồng dân tộc thiểu sổ. Vì những lí do trên, các nhóm thiểu số thường nhận được sự quan tâm đặc biệt trong các nghiên cứu về ngôn ngữ và bản sắc. 

Việt Nam là nơi sinh sống của 54 dân tộc, với khoảng 100 ngôn ngữ và biến thể ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong các cộng đồng thiểu số, bên cạnh quốc ngữ là tiếng Việt – ngôn ngữ của dân tộc Kinh. Sự chiếm ưu thế của người Kinh và tiếng Việt và các yêu cầu về Tiếng Anh – ngôn ngữ quốc tế, đã làm tăng nguy cơ mai một ngôn ngữ và văn hóa ở nhiều cộng đồng thiểu số.

Dựa trên bối cảnh đó, tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang (Đại học Queensland & Cao đẳng Sư phạm Kon Tum) đã tiến hành nghiên cứu “Bilingual identity of ethnic minority students: insights from Vietnam”. Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí International Journal of Bilingual Education and Bilingualism ( vol 24, 2021 – issue 1). Đây là tạp chí xếp hạng Q1 theo Scopus với Citescore =  4.8 (2020). 

Nghiên cứu tìm hiểu bản sắc song ngữ của học sinh thiểu số tại Việt Nam thông qua hành vi, niềm tin, và cách tổ chức ngôn ngữ. Tác giả cũng tập trung vào các yếu tố về văn hoá sắc tộc, xã hội, các tương tác và đầu tư có ảnh hưởng tới bản dạng song ngữ. Dữ liệu phục vụ công bố này được thu thập thông qua 24 phiên phỏng vấn bán cấu trúc 1 – 1 với 8 sinh viên. Mỗi sinh viên tham gia 3 phiên phỏng vấn bới lượng câu hỏi phỏng vấn lớn. Chủ đề các câu hỏi trải rộng từ tổ chức và sử dụng ngôn ngữ trong các bối cảnh khác nhau đến việc sử dụng và niềm tin ngôn ngữ liên quan đến giá trị, tính hữu dụng và sắc tộc; các câu chuyện về môi trường học đường hoặc song ngữ. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy thông qua thực hành và tổ chức ngôn ngữ dưới ảnh hưởng của niềm tin và tín ngưỡng ngôn ngữ, sinh viên phát triển bản sắc trong một quá trình có sự hoạt động tích cực của (1) việc duy trì bản sắc dân tộc (bảo toàn) và (2) hình thành bản sắc đại chúng (chuyển hóa). Hai quá trình bảo toàn và chuyển hoá có thể diễn ra hòa hợp ở một cá nhân trong những điều kiện xã hội nhất định. Tuy nhiên, đối với một vài học sinh, xu hướng chuyển hoá thường phát huy mạnh mẽ hơn. Điều này đặt ra câu hỏi về việc duy trì ngôn ngữ mẹ đẻ và bản sắc dân tộc trong quá trình dài hạn. Các yếu tố về sắc tộc – văn hoá thường có những ảnh hưởng nổi bật trong xu hướng bảo toàn bản sắc của sinh viên. Từ đó, tác giả đề xuất việc tối ưu hoá vai trò của các yếu tố văn hoá – sắc tộc là đặc biệt quan trọng cho việc bảo tồn các ngôn ngữ thiểu số đang bị đe doạ.

Chi tiết nghiên cứu 

Nguyen Thi Thuy Trang (2021). Bilingual identity of ethnic minority students: insights from Vietnam. International Journal of Bilingual Education and Bilingualism, 24(1), 91-106

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn