fbpx

CÁC NHÀ KHOA HỌC CHIA SẺ TỔN THẤT NGHỀ NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN COVID-19

Trong khi đại dịch vẫn tiếp diễn, các nhà nghiên cứu đang dần dần nhận thấy bài học mà họ đã nhận được và nhìn nhận lại những tổn thất mà họ đã trải qua, điều này sẽ được thể hiện trong khảo sát toàn cầu của Nature.

Cho tới đầu năm 2020, Martha Nelson vẫn đang rất hài lòng với công việc của mình. Khi thế giới vật lộn với sự bùng phát của virus corona SARS-CoV-2, Nelson, người chuyên nghiên cứu về những virus có khả năng gây đại dịch tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), cảm thấy công việc của cô ấy trở nên cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết. Bạn bè và gia đình cho rằng cô ấy có sự đảm bảo chắc chắn về công việc. ‘’Mọi người nói với tôi rằng tôi hẳn đang là người dẫn đầu thế giới vì công việc của tôi rất quan trọng’’, cô ấy nói.

Trên thực tế, Nelson gặp rất nhiều khó khăn. Việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình thường là một cuộc chiến ngay cả trước khi đại dịch xảy ra, đó là khi cô phải trả tiền thuê người trông trẻ và nhận sự trợ giúp từ ông bà sống gần đó. Đại dịch đã loại bỏ hệ thống hỗ trợ đó, và việc duy trì nhịp độ làm việc trở nên khó khăn hơn. Vào tháng 10 năm 2020, hợp đồng lao động của cô ấy đã không được gia hạn. Trong thời buổi hỗn loạn, ngay cả những công việc quan trọng cũng có thể biến mất.

Tranh: Jenna Arts/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Nelson là một trong hơn 3.200 nhà khoa học trên khắp thế giới đã tự chọn tham gia Khảo sát về mức lương và mức độ hài lòng trong công việc năm 2021 của Nature, kéo dài từ tháng 6 đến đầu tháng 7. Nature đang trình bày các kết quả khảo sát trong một loạt các bài báo sẽ làm sáng tỏ tình trạng khoa học ở thời điểm quan trọng này. Cũng như cuộc khảo sát năm ngoái dành cho các nhà nghiên cứu sau tiến sĩ, khảo sát năm nay bao gồm các câu hỏi về tác động của đại dịch đối với cuộc sống và sự nghiệp.

KHẢO SÁT VỀ CÔNG VIỆC VÀ MỨC LƯƠNG CỦA NATURE

Khảo sát về mức lương diễn ra 3 năm một lần và lần cuối là vào năm 2018. Nó được tạo cùng với Shift Learning, một công ty nghiên cứu thị trường ở London, và được quảng cáo trên nature.com, trong các sản phẩm kỹ thuật số của Springer Nature và thông qua các chiến dịch e-mail. Khảo sát có bản Tiếng Anh, tiếng Trung Quốc phổ thông, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Bồ Đào Nha. Toàn bộ dữ liệu khảo sát có sẵn tại go.nature.com/3eqcpk9.

Alessandra Minello, một nhà nhân khẩu học tại Đại học Padua ở Ý, cho biết, sau hơn một năm bị phong tỏa và trì hoãn, các nhà khoa học ở khắp mọi nơi vẫn đang dần nhận ra những bài học và mất mát. “Giờ đây chúng tôi có thêm thông tin về những gì thực sự đã xảy ra trong đại dịch’’. Minello là đồng tác giả của một nghiên cứu dựa trên phỏng vấn được công bố vào tháng 8 năm 2020, trong đó chỉ ra rằng các nữ học giả thường phải bỏ qua công việc của họ trong thời kỳ đại dịch (A. Minello et alEur. Soc23 (Suppl. 1), S82–S94; 2020).  “Tất cả chúng ta đều phải chịu đựng tình cảnh cô lập xã hội, nhưng sẽ mất nhiều năm để nhận biết được toàn bộ những tác động của thời kỳ này đến công việc của mình.”

Mặc dù tương đối ít người tham gia khảo sát mắc COVID-19, nhưng dịch bệnh đã thay đổi nơi làm việc và nghề nghiệp của họ. Tổng thể, có 12% người được hỏi cho biết họ đã mất nhiều lời mời làm việc vì COVID-19, và 43% nói rằng đại dịch đã ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng nghề nghiệp của họ. Phần lớn những người được hỏi (57%) nói rằng nó đã làm giảm khả năng thu thập dữ liệu của họ. Tỷ lệ tương tự nói rằng nó cản trở sự hợp tác với các đồng nghiệp cùng nơi làm việc (56%) và khả năng tiến hành các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm (55%; xem phần ‘Nghề nghiệp có rủi ro’).

Tiffany Reese, nhà miễn dịch học tại Đại học Texas Southwestern Medical Center ở Dallas, cho biết chỉ có thời gian mới có thể trả lời được rằng năng suất lao động bị mất đi trong đại dịch sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp trong tương lai. Bà nói, lý tưởng nhất là các cơ quan tài trợ và nhà tuyển dụng sẽ không phạt các nhà khoa học có công việc bị gián đoạn mà không phải do lỗi của họ. “Điều khiến tôi lo lắng là ký ức ngắn ngủi’’, cô nói. “Đã có rất nhiều cuộc thảo luận về việc bạn nên tính đến COVID như thế nào khi xem xét một khoản tài trợ. Điều đó sẽ trở thành sự thật trong hai hoặc ba năm tới? Sẽ rất khó để những người đánh giá xem xét thực tế là đã mất mát quá nhiều năng suất công việc”.

CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỨNG TRƯỚC RANH GIỚI RỦI RO

Các nhà nghiên cứu trẻ đặc biệt dễ chịu tổn thất. Hơn một nửa (53%) các nhà nghiên cứu ở giai đoạn đầu của nghề nghiệp – bao gồm 65% tất cả các nhà nghiên cứu sau tiến sĩ – nói rằng đại dịch đã cản trở tiềm năng phát triển nghề nghiệp của họ. Những kết quả này phù hợp với cuộc khảo sát năm ngoái của các nhà nghiên cứu sau tiến sĩ, trong đó 61% người được hỏi chia sẻ về mối lo ngại này. Trong cuộc khảo sát năm nay, những người tham gia khảo sát tự mô tả mình là các nhà khoa học ‘’bắt đầu muộn’’ là những người ngoại lệ: chỉ hơn một phần tư (26%) cảm thấy rằng đại dịch đã ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng nghề nghiệp của họ.

Có sự tương đồng trong việc báo cáo rằng đại dịch ảnh hưởng tiêu cực tới sự nghiệp giữa nam và nữ, nhưng các yếu tố khác thì có sự khác biệt. Ví dụ, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực sinh thái và tiến hóa (51%) và vật lý học (49%) bị ảnh hưởng nặng nề. Điều này có lẽ do sinh thái học và tiến hóa là một ngành học phụ thuộc phần lớn vào nghiên cứu thực địa, tương tự như vậy, khoa học vật lý thường yêu cầu các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm mà có thể khó tiến hành trong thời gian phong tỏa. Cũng có sự khác biệt giữa các khu vực. Các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ (38%), Trung Quốc (41%) và Vương quốc Anh (43%) thì đánh giá thấp hơn so với các nhà nghiên cứu ở Brazil (72%) và Ấn Độ (61%) về việc đại dịch đã làm kìm hãm cơ hội phát triển nghề nghiệp của họ.

Edmond Sanganyado, một nhà hóa học môi trường tại Đại học Shantou (Sán Đầu) ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nói rằng đại dịch đã khiến nghiên cứu của anh phải tạm dừng. Anh kể rằng, “Ở Trung Quốc, chúng tôi thường thuê các phòng thí nghiệm bên ngoài để làm phân tích định kỳ’. Hầu hết những phòng thí nghiệm đó đã đóng cửa vì chúng không được coi là thiết yếu.” Những hạn chế về việc đi lại đã ngăn cản anh về thăm quê hương Zimbabwe và tham dự các hội nghị quốc tế, một cơ hội quan trọng để kết nối và thăng tiến trong sự nghiệp. “Ở Trung Quốc, bạn được đánh giá bởi các hội nghị bạn tham dự, và các hội nghị trực tuyến hiếm khi được công nhận.”

Tương tự như vậy, đại dịch đã kìm hãm nghiên cứu khoa học thực vật của Jucelaine Haas tại Đại học Công nghệ Liên bang ở Paraná, Brazil. Haas nói rằng hệ thống nghiên cứu ở đất nước của cô vốn đã rất yếu kém. Cô chia sẻ: “Chúng tôi không có công nghệ để làm bất cứ điều gì khác ngoài nghiên cứu cơ bản.” Giống như nhiều nhà khoa học Brazil, cô ấy phải dựa vào sức lao động của các nghiên cứu sinh và những người khác để làm những công việc mà lẽ ra có thể được tự động hóa. Trong trường hợp của cô, điều đó có nghĩa là phải tự tưới cây. Cô nói: “Ở Brazil, ngay cả việc trồng cây cũng rất khó. Khi các học viên sau đại học và những người khác phải ở nhà, những cây đó không được tưới nước và vì thế nghiên cứu không thể tiếp tục. Một số đồng nghiệp vẫn yêu cầu một số sinh viên làm điều này điều kia, nhưng tôi nghĩ rằng điều đó không tốt cho sức khỏe của họ’’.

Haas rời Brazil vào tháng 11 năm 2020 trong một kỳ nghỉ phép để tới thăm Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Helmholtz ở Leipzig, Đức. Cô ấy đã quay lại Brazil vào tháng trước, sự thay đổi làm cô ấy hoảng sợ. ‘’Brazil lúc đó thực sự như một mớ hỗn loạn’’, Haas nói. Đề cập đến sự lan rộng của COVID-19 ở đó, cô giải thích: “Chính phủ không đưa ra bất cứ hành động gì, và nó đã bùng phát rất nhanh. Tổng thống [Jair Bolsonaro] nói rằng đó chỉ là bệnh cúm và không cần đeo khẩu trang. Điều đó dễ khiến người khác không coi trọng đại dịch này. Tôi không cảm thấy an toàn ở đó”. Tháng trước, Thượng viện Brazil đã khuyến nghị buộc tội Bolsonaro là “tội phạm phản nhân loại” vì việc xử lý đại dịch của ông.

THIẾU THỐN NGUỒN CUNG THIẾT BỊ

Một dấu hiệu của sự ảnh hưởng sâu rộng khác của đại dịch là sự gián đoạn chuỗi cung ứng vật liệu cơ bản trong phòng thí nghiệm, buộc các nhà khoa học phải tranh giành. Một nhà nghiên cứu Nam Phi trong lĩnh vực y sinh viết: “Kiếm được nguồn cung cấp là thách thức lớn nhất. Chúng tôi đang đợi 3–6 tháng cho bất kỳ đơn hàng nào đến phòng thí nghiệm.” Tại Vương quốc Anh, một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp than thở rằng anh đã phải chờ đợi nguồn cung cấp lâu hơn bình thường, mặc dù anh không thể chắc có bao nhiêu bao nhiêu phần trăm sự chậm trễ có liên quan đến đại dịch và bao nhiêu phần trăm là do các vấn đề về nguồn cung cấp đã được chỉ ra rõ ràng rằng đến từ việc quốc gia này rời khỏi Liên minh Châu Âu. Nhìn chung, gần một nửa (49%) tổng số người được hỏi cho biết họ gặp khó khăn khi lấy nguyên vật liệu cho phòng thí nghiệm. Những vấn đề này đặc biệt phổ biến ở Ấn Độ (63%) và Australia (57%), nhưng đáng chú ý là không phải vấn đề lớn ở Trung Quốc (27%).

Các nhà khoa học là những người tháo vát, và họ đã tìm ra cách để giải quyết tình trạng thiếu hụt. Hơn một nửa số người được hỏi gặp vấn đề về nguồn cung cho biết họ có thể tìm được nguyên liệu từ các nhà cung cấp thay thế. 42% khác cho biết họ có thể thay thế bằng vật liệu sẵn có hơn. Nhưng 17% nói rằng họ không thể có được nguồn cung cấp, bất kể họ đã cố gắng ra sao.

Đối với một số người, đại dịch và sự tràn ngập của các nghiên cứu liên quan diễn ra sau đó đã mang tới nhiều cơ hội. 27% các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nói rằng đại dịch đã cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ, cao nhất so với bất kỳ lĩnh vực nào. Nhìn chung, 14% số người được hỏi nói rằng họ nhận thấy nhiều cơ hội quý giá để phát triển sự nghiệp nhờ sự kiện này.

Sören Lukassen đang là nghiên cứu sau tiến sĩ ngành tin học sinh học tại Charité – Đại học Y Berlin, chia sẻ rằng đại dịch khiến khối lượng công việc của anh trở nên quá tải. Một phần nghiên cứu của anh là về bệnh ung thư phổi, do đó anh có dữ liệu về các tế bào phổi có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu bệnh lý nhiễm trùng SARS-CoV-2. “Chúng tôi biết rằng mình phải đưa thông tin ra ngoài càng nhanh càng tốt,” anh nói. “Công bố về COVID đầu tiên của chúng tôi chỉ mất mười ngày kể từ khi hình thành ý tưởng cho đến khi nộp bản thảo.”

Công trình của Lukassen trong giai đoạn COVID-19 đã mang lại bước ngoặt quan trọng cho sự nghiệp của anh. Anh đã bỏ túi một số công bố được đánh giá cao, bao gồm một báo cáo xuất bản vào tháng 6 năm 2020 trên tạp chí Nature Biotechnology cho thấy mối tương quan giữa mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng COVID-19 và tương tác với các tế bào miễn dịch trong đường thở. Anh cũng có cơ hội làm việc trực tiếp với người đứng đầu của Charité trong nhiều dự án khác nhau. Anh ấy nói rằng mối liên hệ đó có ích khi anh ấy nộp đơn xin trở thành trưởng nhóm ở đó, một chức vụ mà anh ấy đã bắt đầu vào tháng Giêng. “Công việc của tôi trong giai đoạn COVID chắc chắn đã tăng cơ hội cho tôi,” anh ấy nói.

Tuy nhiên, sự thăng tiến này cũng phải đánh đổi với cái giá đắt đỏ. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020, anh phải liên tục làm việc tới 16 tiếng mỗi ngày, xóa sạch mọi hy vọng đạt được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. “Khi nhìn lại, tôi rất vui vì đã làm như vậy, nhưng cũng có những thời điểm tôi không cảm thấy thế,” anh nói.

Tốc độ điên cuồng của khoa học đại dịch khiến Nelson cảm thấy choáng ngợp, nhất là khi cô cần phải dành nhiều thời gian để chăm sóc cậu con trai nhỏ. “Trước đây tôi vốn vẫn chới với trong việc xử lý được tốc độ của khoa học,” cô nói. “Đại dịch đã khiến điều đó trở nên điên cuồng hơn nữa. Tôi nhận ra mình rất dễ bị tổn thương ”.

Ngày càng có nhiều bằng chứng đang chỉ ra rằng đại dịch là đặc biệt khó khăn hơn đối với các nhà nghiên cứu có trách nhiệm chăm sóc con cái. Trong một cuộc khảo sát với 1.347 nhà nghiên cứu được thực hiện vào tháng 2 và tháng 3 bởi UKRI, cơ quan nghiên cứu của chính phủ Vương quốc Anh, 61% tổng số người được hỏi và 88% người được hỏi có con cái nói rằng đại dịch đã làm giảm thời gian họ có thể dành cho nghiên cứu.

Reese cho rằng đại dịch chỉ đang khuếch đại một số vấn đề vốn đã tồn tại từ lâu đối với phụ nữ. Vào tháng 2, cô là đồng tác giả của một bài xã luận trên tạp chí Science Advances kêu gọi các trường đại học hỗ trợ phụ nữ trong giới học thuật và xóa bỏ bất bình đẳng giới.

Trong cuộc khảo sát của Nature, nữ giới (40%) có xu hướng cao hơn nam giới (34%) khi cho rằng cấp trên của họ đã không làm tất cả những gì có thể để hỗ trợ họ trong đại dịch. Tỉ lệ nữ giới cho rằng họ không nhận được các hướng dẫn rõ ràng để điều hướng những thay đổi trong khả năng làm việc của họ cũng cao hơn nam giới: 32% so với 26%.

Nam giới cũng có những phàn nàn của họ về sự hỗ trợ của tổ chức. Một nam nghiên cứu y sinh học tại một trường Đại học bang ở California đã viết: “Tôi chưa bao giờ ngừng tới văn phòng trong giai đoạn COVID; Khoảng ba tháng khi đại dịch mới bắt đầu, tôi làm việc ở nhà ba ngày một tuần và trong phòng thí nghiệm hai ngày một tuần, nhưng sau đó, tôi đã quay lại với công việc toàn thời gian trong phòng thí nghiệm. Tổ chức đã không làm bất cứ điều gì để hỗ trợ các nhân sự ở phòng thí nghiệm, những người đã giúp duy trì sự vận hành của các phòng thí nghiệm ở các trường đại học trong suốt thời kỳ COVID.”

Nhiều nhà khoa học dự đoán rằng đại dịch sẽ thay đổi sự nghiệp và cuộc sống của họ trong nhiều năm tới. Một phần ba số người được hỏi dự đoán rằng đại dịch sẽ dẫn đến việc gia tăng số lượng nghiên cứu khoa học; gần một phần tư cho rằng sẽ có nhiều hơn các Hội nghị trực tuyến; và 14% dự đoán nhiều hợp tác trực tuyến hơn. Tuy nhiên, khoảng 1/3 dự đoán rằng khoa học sẽ không thay đổi, không tốt lên cũng không tệ đi. Một nhân viên khoa học người Anh làm việc trong lĩnh vực y sinh viết: “Mọi thứ sẽ sớm trở lại như trước’’.

BẠN NGHĨ ĐẠI DỊCH SẼ THAY ĐỔI KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Các câu trả lời mở trong cuộc khảo sát về mức lương và sự hài lòng trong công việc của Nature nêu lên nhiều vấn đề nổi cộm mà các nhà khoa học đang phải đối mặt trong đại dịch. Các câu trả lời đã được chỉnh sửa về độ dài, sự mạch lạc, và dịch sang Tiếng Anh khi cần.

• Ở thời điểm mười tám tháng trước, tô sẽ nói với bạn rằng tôi không thể làm việc xa bàn làm việc trong một thời gian dài. Bây giờ tôi tự hỏi liệu có cần thiết phải đến văn phòng một ngày trong tuần hay không. Tôi có một cuộc họp Zoom kéo dài hai giờ với các đồng nghiệp ở Trung Quốc và Ba Lan (hầu như) vào mỗi buổi sáng. Nhân viên khoa học ngành thép, Bỉ.

• Khoa học sẽ trở nên tập trung hơn vào các vấn đề có thể tạo thành tin nóng. Postdoc ngành vật lý, Ba Lan.

• Tôi hy vọng các cuộc hội thảo từ xa sẽ được áp dụng lâu dài. Tôi đã tham dự ngày càng nhiều và đa dạng các cuộc hội thảo hơn bao giờ hết mà không cần rời bàn làm việc. Postdoc ngành y sinh, Hoa Kỳ.

• Chi phí cho phòng thí nghiệm và vật tư nghiên cứu ở Brazil tăng vọt. Chúng tôi sẽ phải suy nghĩ lại về cách thực hiện các thí nghiệm bằng các phương pháp rẻ tiền hơn. Một khía cạnh tích cực là các thành viên trong nhóm bớt ích kỷ hơn và luôn giúp đỡ đồng nghiệp. Nhân viên khoa học y sinh, Brazil.

• Chúng tôi vốn đã luôn phải làm việc quá sức và được trả lương thấp, đặc biệt là khi xem xét trình độ học vấn cao của chúng tôi. COVID đã làm tăng gánh nặng chăm sóc con cái, ngưng trệ một số lĩnh vực và công việc trong phòng thí nghiệm. Khoa học là một lĩnh vực thay đổi với tốc độ chóng mặt, và tôi sợ COVID có thể khiến một số nhà khoa học nữ và các nhóm ít được đại diện bị đẩy ra khỏi lĩnh vực này hơn nữa. Postdoc ngành địa chất và khoa học môi trường, Hoa Kỳ.

• Tôi rất lo ngại về tác động tiêu cực to lớn đối với các nhà nghiên cứu mới vào nghề, những người không thể lấy giấy tờ ra hoặc tạo dữ liệu cho các đơn xin tài trợ ở giai đoạn quan trọng này trong sự nghiệp của chúng tôi. Trợ lý giáo sư về y sinh, Hoa Kỳ.

• Tôi hy vọng mình sai, nhưng tôi thực sự lo ngại sâu sắc đến những giảng viên mới vào biên chế vài năm đầu. Tôi không cảm thấy các phản biện viên hay những nhà nghiên cứu ở cấp cao hơn có sự thông cảm đối với những tác động to lớn mà đại dịch đã gây ra đối với chúng tôi. Tôi lo lắng rằng nhiều người trong chúng tôi cuối cùng có thể phải rời bỏ hoặc bị buộc phải rời bỏ khoa học. Trợ lý giáo sư hóa học, Hoa Kỳ.

• Có lẽ việc đầu tư vào các hoạt động hợp tác quốc tế trực tuyến sẽ là một điều tốt. Tuy nhiên, bây giờ tôi tham gia các cuộc họp và hội thảo vào tất cả các giờ cả ngày lẫn đêm, vì vậy điều đó là vô nghĩa trong việc giải quyết sự thiếu cân bằng giữa công việc và cuộc sống trong giới học thuật. Giáo sư địa chất và khoa học môi trường, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.

• Tôi từng nghĩ rằng khoa học sẽ thay đổi theo hướng tốt hơn, nhưng tôi không lạc quan như vậy nữa; Tôi thấy những thái độ tầm thường như mọi khi. Kỹ thuật viên trong ngành chăm sóc sức khỏe, Argentina. (Dịch từ tiếng Tây Ban Nha)

• Hy vọng rằng mọi người sẽ nhìn nhận nghiên cứu y sinh trong thế kỷ XXI tương tự như nghiên cứu vật lý trong thế kỷ XX, lĩnh vực đã thay đổi hoàn toàn thế giới và tiến trình lịch sử. Chuyên gia tư vấn y sinh, Hoa Kỳ. (Dịch từ tiếng Trung)

• Tôi hy vọng nó sẽ khiến mọi người nhận ra tầm quan trọng của các vấn đề toàn cầu. và yêu cầu tuyệt đối đối với các nước phát triển hỗ trợ tốt hơn cho việc nghiên cứu và thực hiện các giải pháp ở các nước kém phát triển. Tôi cũng hy vọng nó sẽ dẫn đến nhiều yêu cầu hơn đối với các tổ chức nghiên cứu trong việc bao gồm và hỗ trợ các nhà nghiên cứu từ các quốc gia có nguồn lực kém hơn. Nhân viên khoa học về nông nghiệp và thực phẩm, Vương quốc Anh.

Đối với Nelson, tương lai có vẻ nghiêng về phần hứa hẹn nhiều hơn. Sau khi mất việc làm theo hợp đồng tại NIH, cô ấy đã có thể tìm được một việc làm lâu dài trong cùng một tổ chức. Cô hiện là nhà sinh học tiến hóa trong Chương trình Nghiên cứu Nội bộ tại Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ ở Rockville, Maryland. Sau khi giải quyết một loạt các hợp đồng kéo dài một năm, cô ấy cuối cùng đã đảm đương công việc của mình. Tất cả những gì cô ấy cần là một cú huých từ đại dịch. Cô nói: “Tất cả những năm qua tôi chỉ tập trung vào khoa học và tôi không phải là một người giỏi trong việc lên tiếng vì bản thân“. Tôi đã có CV và hồ sơ công bố khoa học. Nhưng tôi đã suýt thất bại, điều đó khiến tôi nhận ra rằng có bao nhiêu người khác cũng đang ở trong những vị trí dễ gặp rủi ro. Đại dịch sẽ dẫn bạn tới một bước ngoặt’’.

Mỹ Linh dịch

Nguồn

Chris Woolston. (November 10, 2021). Scientists count the career costs of COVID. Nature. https://doi.org/10.1038/d41586-021-03040-1

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn