fbpx

CHÚNG TA MẤT GÌ KHI CHUYỂN TỪ LỚP HỌC TRỰC TIẾP SANG ZOOM?

Giống như các giấc mơ về một xã hội hoàn hảo khác, viễn tưởng về sự công bằng luôn có giá trị của nó.

Tranh: MARINA MUUN/Behance | CC BY-NC 4.0

Khi cuộc sống vẫn còn bình thường, tôi cùng các sinh viên của mình cùng ngồi với nhau ở các phòng học. Những buổi học yêu thích của tôi là những buổi học thân mật khi mà chúng tôi ngồi mặt đối mặt quanh bàn hội thảo, với các dòng đối thoại diễn tiến một cách dễ dàng. Vào thời gian này của năm, thời tiết bắt đầu trở nên nóng một cách khó chịu. Trên các dãy bàn được sắp xếp một cách bừa bãi, các sinh viên của tôi sẽ uể oải ngả nghiêng trên mấy chiếc ghế không được thoải mái cho lắm cùng bàn được gắn cố định, trong khi tôi bước qua bước lại ở phía đầu lớp học, cố gắng thu hút sự hứng thú của chúng vào mấy chủ đề nhân học phức tạp. Đôi khi tôi thành công. Đôi khi tôi thấy được cả dãy học sinh ở hàng ghế cuối cùng trong mấy lớp đại cương đã lăn hết ra bàn một cách gọn gàng trước mặt mình.

Mỗi kiểu lớp học đều có những thành thức và lợi thế riêng biệt, nhưng chúng có cùng một điểm chung. Ở những lớp học này, các học sinh gặp gỡ nhau theo cách thức có vẻ như là công bằng. Chúng ngồi ở cùng những chiếc ghế không thoải mái giống nhau. 

Giờ đây chúng ta đã mất đi phòng học của mình, và tôi sợ rằng, đi kèm với nó là cả một số thứ quan trọng.

Ở cổng vào tòa nhà trong khuôn viên trường Queens College ở Flushing, Queens, nơi tôi đã giảng dạy 14 năm, tôi được đón chào với một câu nói của nhà phê bình văn hoá bell hooks: “Học viện không phải là thiên đường. Nhưng học tập là một nơi mà ở đó thiên đường có thể được kiến tạo.” Trong cuốn sách mà những lời trên được trích ra, bà tiếp tục như sau: “Lớp học, cùng với tất cả những hạn chế của nó, vẫn là một địa điểm tồn tại mọi sự có thể.” 

Khi các khuôn viên của Hệ thống các Đại học công lập New York (CUNY) phải ngưng hoạt động, tôi vội vàng chuyển các bài giảng còn lại cho 130 sinh viên lớp Đại cương về Nhân học văn hoá của mình thành các video. Với thời khoá biểu liên tục bị gián đoạn, hạn chế trong việc truy cập máy tính, Wifi chập chờn, cùng nhiều trở ngại khác, một lớp học trực tuyến đồng bộ với từng đó học sinh dường như là không thể. Sinh viên giờ có thể xem các bài giảng của tôi trên điện thoại của chúng.

Ở lớp học dạng seminar nhỏ hơn, chúng tôi dùng Zoom để tái tạo các trải nghiệm của lớp học một cách tốt nhất có thể. Khi thảo luận các bài đọc, tôi quan sát các tấm áp phích, tranh ảnh và thảm thêu trang trí trên các bức tường của các sinh viên của mình. Tôi nhìn thấy bóng dáng của những người sống cùng hay mấy con thú cưng của chúng tạt qua phía đằng sau. Tôi thấy cả những khu vực làm việc được tạm thời sắp xếp ra từ không gian chật hẹp. Tôi nghe thấy các tạp âm gây xao nhãng khi một sinh viên mở mic của mình lên để nói điều gì đó.

Sự thân mật qua Zoom này thường là đáng mến, và tôi đôi khi cũng chào đón những kiểu gần gũi mới mẻ với người khác này mà thời kì cô lập xã hội bắt buộc đã mang chúng đến với ta theo những cách thức kỳ lạ, không mong đợi. Tôi thích việc biết rằng sinh viên này hay uống trà từ cái cốc sứ cỡ lớn, trong khi một sinh viên khác có vẻ mát tay với việc trồng cây cảnh. Nhưng tôi cũng nhận thức được rằng, những cái ghé nhìn vào các ngôi nhà ấy đã vi phạm cái giao ước ngầm ẩn chốn phòng học, nơi mà các sinh viên có sự kiểm soát với việc những phần nào trong cuộc sống của mình chúng có thể đưa ra phơi bày. 

Không phải là lớp học chặn đứng được mãi mãi thế giới bên ngoài – và nó cũng không nên như vậy. Khi sinh viên mang những trải nghiệm sống đa dạng của mình vào các cuộc thảo luận, chúng tạo ra được những kết nối thông sáng, kết xuất được những ý tưởng trừu tượng thành các hình ảnh cụ thể rõ nét. Một trong những phần ưa thích của tôi khi dạy đó là nhìn thấy sinh viên kết nối được các khái niệm trong bài học với cuộc sống của chúng. Tôi thường coi vai trò chính của mình là cung cấp cho chúng một bộ từ vựng để tư duy về – và có thể diễn tả ra thành các từ ngữ – những điều mà chúng vốn sẵn biết. Đôi khi đời sống cá nhân của chúng len vào lớp học theo những cách thức không quá được chào đón. Một sinh viên xin lỗi tôi vì ngủ gật trong lớp; cậu ấy là một lái xe Uber đã phải tăng giờ làm việc vào buổi đêm của mình vì bố cậu mới bị mất việc. Một cậu khác bỏ vài buổi học, về sau mới giải thích được với tôi rằng do phải đi cùng để phiên dịch giúp mẹ khi bà đến các buổi hẹn khám với bác sĩ. Một sinh viên nữ, một cách tội lỗi, xin phép tôi được mở điện thoại trong lớp để có thể theo dõi các tin nhắn từ cậu con trai đang bị ốm của mình. Một sinh viên khác đi tới văn phòng của tôi trong nước mắt, lo lắng về việc trượt môn. Em ấy đã không thể học tập tử tế được vì cả nhà đã bị trục xuất ra khỏi căn hộ đang thuê.

“Nhưng tôi cũng nhận thức được rằng, những cái ghé nhìn vào các ngôi nhà ấy đã vi phạm cái giao ước ngầm ẩn chốn phòng học, nơi mà các sinh viên có sự kiểm soát với việc những phần nào trong cuộc sống của mình chúng có thể đưa ra phơi bày.”

Đó là những sự kiện thông thường mà một giáo viên dạy ở một trường đại học công lập bán trú như Queens College sẽ gặp phải. Và giờ khi đại dịch này xuất hiện, vừa làm lộ ra vừa làm tệ đi những bất bình đẳng ở thành phố và đất nước chúng ta, đẩy những cá nhân da màu hoặc/và có thu nhập thấp – chiếm phần đông các sinh viên CUNY – vào một tình trạng dễ bị tổn thương hơn, cả về mặt sức khỏe lẫn sinh kế. Tôi có thể nhận ra điều này một cách sống động trong các hộp thư của mình, mà đang ngập tràn với những email từ các sinh viên đang bệnh hoặc đang phải chăm sóc cho một người khác trong gia đình. Một sinh viên lỡ mất bài kiểm tra vì cậu ấy phải vội vã đưa bà tới bệnh viện; một vài ngày sau cậu viết thư báo rằng bà đã qua đời. Một số sinh viên phải tăng giờ làm việc vì thuộc nhóm “người lao động thiết yếu” (essential workers), trong khi một số khác thì đã mất việc. Tôi lo lắng nhất về những người mà tới giờ vẫn chưa thấy có tin tức gì.

Bình đẳng trong lớp học là một viễn tưởng – sẽ thật vô lý nếu ai đó dám đề xuất điều ngược lại. Một sự thật hiển nhiên đau lòng là chỉ một số trong những sinh viên của tôi hưởng lợi từ việc có một nền giáo dục phổ thông tốt. Những người khác bắt đầu đại học một cách đầy bấp bênh. Rất nhiều là những người nhập cư còn gặp khó khăn với tiếng Anh học thuật và không hiểu được những yếu tố văn hoá mà sẽ giúp cho việc đọc tài liệu trở nên thuận lợi hơn. Chủng tộc, giới tính, tầng lớp, xu hướng tính dục, tình trạng công dân và nhiều yếu tố khác định hình việc ai là người có thể tự tin đứng lên nói trước lớp và ai là người luôn lo lắng liệu rằng mình có nói ra điều gì sai. Khi chúng ta giả vờ rằng những bất công như vậy không tồn tại, chúng ta đang cho phép những thứ đó được giữ nguyên mà không bị thách thức. Nhưng giống như những giấc mơ về một thế giới hoàn hảo khác, viễn tưởng về sự công bằng – được nuôi cấy bởi những phòng học với những chiếc ghế đồng bộ – cũng có những giá trị của nó.

Không giống như những sinh viên thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở các trường ký túc khác, phần lớn các sinh viên của tôi sống ở nhà. Khuôn viên đại học bị đóng cửa và sự chuyển đổi đột ngột sang thành học trực tuyến có lẽ không phải điều gì quá sốc với chúng, bởi đại học vốn chưa bao giờ là một lựa chọn tách rời khỏi những yêu cầu phức tạp của cuộc sống gia đình và áp lực kiếm sống hàng ngày. 

Nhưng đó chính xác là lý do tại sao lớp học lại quan trọng. Nó không phải là một không gian tách rời khỏi thế giới đổ vỡ và bất công mà ta đang sống, nhưng đó là một nơi chốn mà sinh viên gặp gỡ nhau, trước nhất, với tư cách là những người học đồng đẳng. Là một giảng viên, tôi không đủ sức để thay đổi một bối cảnh đã bất bình đẳng quá sâu sắc này. Nhưng ở lớp học, tôi cùng các sinh viên của mình có thể cố gắng tạo dựng một cộng đồng mà ở đó chúng tôi lắng nghe nhau với sự tôn trọng, ở đó tất cả đều có các quyền ngang bằng nhau, ở đó các sinh viên chia sẻ các trải nghiệm của mình vì những tin tưởng mà chúng tôi đã cùng xây dựng, chứ không phải do sự phơi bày không thể tránh khỏi cuộc sống cá nhân của mình qua Zoom.

Các sinh viên và giảng viên của CUNY rất kiên cường; chúng tôi biết cách để vượt qua nghịch cảnh với những nguồn lực ít ỏi hơn so với những gì chúng tôi xứng đáng. Bây giờ, tôi cùng các sinh viên của mình vẫn đang dạy và học, như thể chúng tôi phải làm vậy, từ những ngôi nhà chật chội và đôi khi hỗn loạn của mình. Nhưng sớm nhất có thể, chúng tôi muốn tiếp tục được ngồi trên những chiếc ghế không thoải mái đó, tiếp tục sống trong thiên đường của việc học tập.

Linh Chi lược dịch

Nguồn: Karen Strassler. (05/2020). What we lose when we go from classroom to Zoom? New York Times.

*Karen Strassler là Phó giáo sư ngành Nhân học ở Queens College và Trung tâm đại học của Hệ thống đại học công lập New York, tác giả của cuốn “Demanding Images: Democracy, Mediation, and the Image-Event in Indonesia”

Đăng ký Nhận bản tin

error: Content is protected !!