fbpx

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CẦN ỨNG PHÓ THẾ NÀO TRƯỚC CÁC XUNG ĐỘNG ĐỊA CHÍNH TRỊ MỚI

Trong thập kỷ vừa rồi, cán cân địa chính trị toàn cầu đã trải qua nhiều biến động đáng kể. Trong cuộc đua tiến tới một trật tự thế giới mới giữa Trung Quốc, châu Âu và Mỹ, sự phát triển đáng lo ngại của “chủ nghĩa tân tự do độc tài” (authoritarian neoliberalims) đã đánh dấu một bước ngoặt lớn. Trật tự quốc tế bị kẹt giữa căng thắng Trung – Mỹ cả ở khía cạnh kinh tế và công nghệ lẫn ngoại giao khoa học.

Châu Âu thì đang điều chỉnh lại chương trình nghị sự của mình, và sự kiện Brexit chắn chắn đã làm xáo trộn việc ngoại giao của các trường đại học. Các viễn cảnh tương lai khác nhau đang dần thành hình. Liệu sự cạnh tranh toàn cầu giữa Mỹ, Trung Quốc và châu Âu có tiếp tục trở thành rào cản cho sự dịch chuyển của sinh viên hay không?

Còn sự thống trị về học thuật và công nghệ trước một tương lai xuất hiện nhiều đối thủ công nghệ mới? Liệu mô hình giáo dục đại học của vùng Anglo-Saxon có thể chống lại những thách thức này không? Bài viết dưới đây xem xét 4 xu hướng chính.

Hình: Anton Moek/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Các sáng kiến thu hút sinh viên mới

Trong những năm gần đây, giáo dục đại học và nghiên cứu học thuật đã chứng kiến sự xuất hiện các đại học mới ở các khu vực địa lý đang trải qua những thay đổi cơ bản (Ấn Độ – Thái Bình Dương, châu Phi hạ Sahara và Trung Đông).

Ở Trung Đông, một số trường đại học đã cam kết sẽ trở thành những cơ sở dẫn đầu trong mảng giáo dục đại học. Sáng kiến này là một phần của một tiến trình hướng tới đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của các quốc gia vùng vịnh bằng cách đầu tư vào giáo dục đại học và nghiên cứu. Vì thị trường giáo dục đại học ở những quốc gia này còn mới và dễ biến động, các trường đó còn phải phụ thuộc nhiều vào các chiến lược quảng bá được hỗ trợ bởi các cơ sở của các trường đại học danh tiếng đặt tại quốc gia đó (offshore campus). 

Với sự đầu tư mạnh mẽ của các nền dân chủ phương Tây, Khu vực Ấn Độ – châu Á Thái Bình Dương đang trên con đường trở thành một trung tâm giáo dục đại học toàn cầu. Điều này thể hiện ở sự gia tăng các chiến lược Pháp Ấn Độ – Thái Bình Dương kể từ 2018, dưới sự dẫn dắt của các cơ sở đặt tại nước ngoài của các trường đại học Pháp và sự gia tăng các chương trình liên kết (joint degree) được hỗ trở bởi các trường đại học Pháp ở nước ngoài. Khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương đến nay đã trở thành nguồn cung cấp sinh viên quốc tế chính, với hơn 45% số sinh viên du học ở nhiều vùng khác nhau trên thế giưới. 

Mặc dù sự dịch chuyển sinh viên quốc tế giữa các quốc gia ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ vẫn chiếm ưu thế, dự đoán cho rằng năm 2030 sẽ  chứng kiến một sự cạnh tranh gia tăng đáng kể đến từ sự dịch chuyển nội vùng (intra-regional). Dự đoán này được đưa ra dựa trên sự củng cố các mạng lưới và các lợi ích kinh tế chung như: sự tập trung của các dòng hoạt động thương mại, mật độ chuyển giao công nghệ và liên kết giữa các công ty lớn và các cơ sở giáo dục đại học. 

Trong hệ thống đa tâm mới này, sự dịch chuyển của sinh viên sẽ trở thành một véc-tơ tạo ra giá trị và thúc đẩy sự cạnh tranh thu hút nhân tài toàn cầu.

Ở quy mô cấp châu Âu, xung động nội vùng này đã vốn được biểu hiện trong Sáng kiến Các trường Đại học châu Âu (European Universities Initiative – EUI). Là một chương trình liên kết quy mô nhỏ, sáng kiến này dựa trên một mô hình đào tạo – nghiên cứu – đổi mới mà ở đó các trường đại học châu Âu được định hướng để trở hành những cơ sở có tính cạnh tranh cao ở các lĩnh vực đóng góp giá trị cho xã hội (sức khỏe và chất lượng cuộc sống, công nghệ kỹ thuật số, môi trường và hòa nhập xã hội). 

Bên cạnh việc hướng tới dịch chuyển cho tất cả mọi người, với mục tiêu dài hạn là 50% sinh viên và nghiên cứu sinh trong khối liên minh châu Âu, mục tiêu là kiến tạo các cấu trúc quản trị chung, có chương trình đào tạo liên kết giữa các quốc gia châu Âu và khuyến khích các chính sách về chương trình đào tạo vi mô (micro-certification), đào tạo cá nhân và dạy nghề.

Thách thức ở đây sẽ là tạo ra được một tầm nhìn toàn diện có thể bao gồm được tất cả các nhiệm vụ của một trường đại học, bất kể sự khác biệt về văn hóa tổ chức của các cơ sở tham gia.

Chủ quyền học thuật và công nghệ: một thách thức lớn

Trong suốt 5 năm vừa rồi, nhiều trường đại học châu Á đã vươn lên lọt vào các bảng xếp hạng đại học quốc tế, nhờ đó ngày càng thu hút lượng sinh viên quốc tế nhiều hơn. Ví dụ, Trung Quốc đã đón nhận 492.185 sinh viên quốc tế, mặc dù vậy phần lớn số này vẫn là các sinh viên đến từ các nước châu Á khác. Bên cạnh đó, Trung Quốc có gần 3000 trường đại học và ngân sách tổng thể chủ yếu được đổ vào các trung tâm nghiên cứu có mục tiêu đào tạo các tinh hoa mới.

Hai báo cáo gần dây của IRSEM về ảnh hưởng của các quốc gia ngoài châu Âu và tác động của họ tới giới học thuật Pháp mang tên “Chinese Influence Operations: A Machiavellian moment” và “the French Senate’s fact-finding mission” đã khiến thế giới chú ý hơn tới các chiến lược kiểm soát của Trung Quốc.

Điều này thể hiện ở gia tăng các Học viện Khổng Tử bị cáo buộc vi phạm sự tự do khoa học và học thuật. Nó khiến sự thống trị về học thuật và các giá trị cốt lõi của nó trở nên đáng chú ý hơn: quyền công dân, sự đa dạng ý kiến, dân chủ, tự chủ và khoa học mở. Những câu hỏi về các giá trị cơ bản này sẽ định hướng cho sự hợp tác của các trường đại học, và cũng là ý cốt lõi trong báo cáo mới nhất của Hiệp hội các trường Đại học châu Âu.

Ba viễn cảnh có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ bây giờ cho đến năm 2030 bao gồm:

  • Một thế giới với ba thế lực mạnh, trong đó châu Âu thành công trong việc trở thành một cường quốc bên cạnh Mỹ và Trung Quốc;
  • Một mối quan hệ đối tác xuyên đại tây dương mới giữa Mỹ và châu Âu, cạnh tranh lại Trung Quốc;
  • Trật tự đa phương được phục hồi với các thỏa thuật linh hoạt giữa các quốc gia.

Bằng chứng nghiên cứu cho thấy viễn cảnh đầu tiên về việc châu Âu trở nên quyền lực hơn có khả năng xảy ra nhất. Theo Bảng xếp hạng Tác động mới nhất của Times Higher Education, trong số các trường đại học có thành tích tốt nhất trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp Quốc, các trường ở vương quốc Anh đã tạo thành một tam giác quyền lực với Úc và Canada trong top 50. Tuy nhiên, khi xem xét riêng, châu Âu địa lục (tức những vùng đất liền, không bao gồm Anh và các đảo) còn chưa đạt thành tích cao trong bảng xếp hạng với chỉ 6 trường nằm trong top 50.

Khả năng thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững của các trường đại học – cho dù bằng cách điều chỉnh lại chương trình giảng dạy hay khuyến khích sự cởi mở về mặt xã hội của hệ sinh thái của họ – sẽ là việc quyết định các giá trị cốt lõi về sức hấp dẫn của các trường đại học Châu Âu trong 10 năm tới.

Đây cũng là ý nghĩa mà dự án ‘New European Bauhaus’ hướng tới. Dự án này tập trung vào việc đổi mới đô thị, sử dụng năng lượng hiệu quả và mang lại lối sống bền vững và hòa nhập hơn. Nếu chương trình đổi mới này cho phép các nhà cung cấp giáo dục đại học và ngành công nghiệp tạo ra các dự án đầy tham vọng kết hợp khoa học, công nghệ, thủ công và nghệ thuật, nó có thể là chất xúc tác đáng kể trong việc thu hút các nhà nghiên cứu và sinh viên nước ngoài ngày càng nhạy cảm với các vấn đề về trách nhiệm xã hội. 

Truyền tải kiến thức và phổ biến kiến thức

Chủ quyền về học thuật và công nghệ cũng đang đón nhận sự cạnh tranh gia tăng do sức ảnh hưởng ngày càng lớn của các công ty công nghệ lớn và công nghệ giáo dục. Sự phát triển này dựa trên một số yếu tố đang làm biến đổi các động năng truyền thống của các trường đại học.

Chúng bao gồm: số lượng sinh viên ngày càng tăng (600 triệu trên toàn thế giới vào năm 2040 so với 200 triệu ngày nay); sự phát triển mạnh mẽ của học tập trực tuyến; và sự gia tăng của việc nâng cao kỹ năng cũng như sự gia tăng các công việc mới liên quan đến nền kinh tế kỹ thuật số đang khuyến khích các gã khổng lồ web tận dụng tối đa lợi ích của việc tư nhân hóa giáo dục.

Google đã cung cấp một loạt MOOC có thể truy cập miễn phí được liên kết với nền kinh tế kỹ thuật số và cung cấp Chứng chỉ nghề nghiệp của Google trong vòng sáu tháng. Chúng ta cũng đang chứng kiến ​​sự gia tăng của ‘huy hiệu kỹ thuật số’ trong giáo dục, vốn có giá thành rẻ, llinh hoạt và cung cấp một giải pháp thay thế cho các khóa học tuyến tính tốn kém hơn dựa trên hệ thống Bologna. Ngay cả khi các trường đại học tiếp tục sứ mệnh trọng tâm là truyền tải kiến ​​thức, họ sẽ phải đa dạng hóa phạm vi đào tạo mà họ cung cấp và mở rộng việc hợp tác với các công ty lớn.

Họ cũng sẽ cần phải phát triển các quan hệ đối tác của mình với các nền tảng MOOC cho các danh mục đào tạo ngắn hạn có chứng chỉ, nếu không khu vực tư nhân sẽ ngày càng lớn mạnh và thay thế những đặc quyền vốn có của trường đại học.

Tình trạng này cũng đặt ra câu hỏi về mục đích đào tạo trí thức trong các trường đại học, mà dường như đang ngày càng bị lu mờ: liệu nó có thể vẫn dựa trên mô hình giáo dục đại học của Humboldtian hay nó đang trở nên ngày càng thực dụng, hướng tới cung cấp các kỹ năng thị trường thay vì kiến thức?

Thách thức mới cho hệ hình Anglo-Saxon

Trong khi bốn quốc gia được gọi là 4 ông lớn (Big Four countries) đã tận dụng việc giảng dạy bằng tiếng Anh như một đòn bẩy thu hút sinh viên quốc tế, thì gần 20% các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh trên thế giới hiện được giảng dạy ở các quốc gia khác. Sự cạnh tranh này đầu tiên đến từ châu Âu, nhưng các quốc gia bên ngoài phương Tây cũng đã bước vào cuộc đua về tiếng Anh: ở Trung Đông, ở vùng nói tiếng Anh của châu Phi  và ở Đông Á.

Có một bước chuyển từ xu hướng xuất khẩu sinh viên trong nước sang nhập khẩu sinh viên quốc tế, đặc biệt là bằng cách cung cấp các khóa học hợp lý hơn và được phân phối tốt hơn trên khắp thế giới. Sự gia tăng của các khóa học tiếng Anh có thể gây bất lợi cho các trường đại học khu vực Anglo-Saxon vốn có mô hình kinh tế chủ yếu dựa vào học phí.

Một trong những giải pháp khả thi là tăng cường giáo dục xuyên quốc gia, tạo điều kiện cho sinh viên nước ngoài có được bằng cấp từ các trường đại học của Anh mà không cần rời khỏi đất nước của họ. Công thức này có một số lợi thế vì các quốc gia không cần phải phát triển các trường đại học từ đầu mà vẫn sử dụng được lợi thế chuyên môn và các nguồn lực sẵn có.

Hầu hết các quốc gia Đông Á đang đầu tư vào lĩnh vực giáo dục xuyên quốc gia, lĩnh vực có giá trị 650 triệu bảng Anh (880 triệu đô la Mỹ) với Bộ Thương mại Quốc tế Vương quốc Anh. Để duy trì những thỏa thuận này, các đối tác sẽ cần được thuyết phục rằng mô hình giáo dục này đáp ứng các yêu cầu chứng nhận tương tự như trường đại học 

Rõ ràng là cuộc khủng hoảng COVID-19 và những hạn chế về sức khỏe đã làm gia tăng nhu cầu về giáo dục xuyên quốc gia. Đó chính là điều đã diễn ra ở châu Phi và châu Á, và cũng đang dần trở thành xu hướng ở châu Âu, với các cơ sở của các trường đại học nước ngoài được mở tại Phần Lan và Đức. Mặc dù giáo dục xuyên quốc gia vẫn là xu hướng mới phát triển gần đây, không có lợi tức đầu tư được đảm bảo, nhưng nó có thể mang lại cơ hội để giải quyết một số vấn đề mới chính đang ảnh hưởng đến địa chính trị của các trường đại học.

Linh Chi dịch

Nguồn

Catherine Saracco. (2022, Feb 08). How should HE respond to the new geopolitical dynamics? University World News.

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn