fbpx

LÀM SAO ĐỂ BIẾT NGHIÊN CỨU CỦA CHÚNG TA ĐÃ CÓ TÍNH “BAO HÀM”

COVID-19 đã dẫn tới nhiều cách thức làm việc mới với khả năng chuyển hóa hoạt động nghiên cứu. Điều này đã giúp văn hóa nghiên cứu trở nên bao hàm và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt đối với những người gặp rào cản với cơ hội học đại học. Tuy nhiên, sau giai đoạn dịch bệnh, văn hóa nghiên cứu cũng cần phải thay đổi. Trong bài viết này, Stuart Read, Anna Parfitt và Tanvir Bush phác họa ba câu hỏi tiền đề mà các nhà nghiên cứu có thể cân nhắc để phần nào thực hành nghiên cứu toàn diện, bình đẳng hơn.

Đại dịch virus Corona đã thúc ép các nhà nghiên cứu phải suy nghĩ lại về nền tảng của hoạt động nghiên cứu theo những dạng thức làm việc khác nhau. Sự chuyển đổi này, có thể lấy ví dụ với sự phát triển của công nghệ, có tiềm năng khiến cho văn hóa nghiên cứu trở nên rộng mở hơn đối với những cá nhân trải qua những rào cản của hệ thống nghiên cứu học thuật truyền thống, ví dụ như những người khuyết tật hay những người mắc bệnh kinh niên. Vì vậy, ý định quay về trạng thái như thường lệ sau dịch bệnh có thể sẽ là bất bình đẳng đối với tất cả mọi người. Khi ấy, làm cách nào để chúng ta có thể đảm bảo rằng hoạt động nghiên cứu sau dịch bệnh vẫn dễ tiếp cận và toàn diện đối với mọi người?

Để thực hành nghiên cứu hướng tới tính bao hàm toàn diện, chúng tôi muốn cơ bản khám phá ba câu hỏi lớn mà tất cả những nhà nghiên cứu có thể bắt đầu tập trung suy nghĩ. Những câu hỏi này có tính liên ngành và áp dụng rộng rãi với các nhà nghiên cứu, dù cho trước đây họ đã hoặc chưa từng làm việc tại một ngôi trường đại học nào.

Tranh: Bullpen Studio, Aaron Kemnitzer, Elliot Lim/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

1. Những đối tượng nào cần được bao hàm trong văn hóa nghiên cứu?

Để phát triển một nghiên cứu có tính bao hàm, chúng ta cần hiểu cách tạo nên một văn hóa nghiên cứu chào đón hơn là loại trừ những nhóm thiểu số, ít mang tính đại diện trong xã hội. Chúng ta không có những quy tắc cụ thể về định nghĩa hay cách thức hoạt động của nghiên cứu bao hàm. Tuy nhiên, cần hướng sự chú ý tới việc cộng tác với những nhóm thiểu số, ví dụ như những người khuyết tật, để di chuyển cán cân quyền lực khỏi phía những nhà nghiên cứu có đặc quyền; từ đó, những nhóm thiểu số với trải nghiệm sống đặc biệt sẽ mang lại tiếng nói chân xác cho sự hình thành nghiên cứu khoa học.

Điển hình, những nguyên tắc nghiên cứu bao hàm trong ngành Nghiên cứu Khuyết tật (Disability Studies) nhấn mạnh các quyền lợi dành cho học giả khuyết tật như quyền đồng tác giả của quá trình nghiên cứu khoa học, quyền được tham gia nghiên cứu với các điều kiện đáp ứng nhu cầu, cũng như nội dung nghiên cứu hướng về quyền bình đẳng cho người khuyết tật. 

“Chúng ta cần trở nên cởi mở hơn để thử nghiệm những điều mới và nhận ra rằng xu hướng làm sai thường nhiều hơn đúng (nhưng chính điều ấy là động lực giúp chúng ta học tập và cải thiện hơn)”. 

Điều này có nghĩa rằng chúng ta phải sẵn sàng lắng nghe tiếng nói của những người từ trước tới nay vốn bị loại trừ khỏi giới học thuật, để hiểu quá trình nghiên cứu nào là hiệu quả. Chúng ta cần trở nên cởi mở hơn để thử nghiệm những điều mới và nhận ra rằng xu hướng làm sai thường nhiều hơn đúng, nhưng chính điều ấy là động lực giúp chúng ta học tập và cải thiện hơn. Nếu chỉ bám theo những điều ta đã biết hơn là cố gắng đạt được nghiên cứu bình đẳng, toàn diện, chúng ta đang tiếp tục tạo nên và duy trì sự hiện diện của những hoạt động nghiên cứu chỉ dành cho giới tinh hoa.

2. Ai hoặc điều gì đang định hình quá trình nghiên cứu?

Với câu hỏi này, chúng ta cần suy nghĩ về những yêu cầu nghiên cứu chứa đựng nhiều sự cạnh tranh tiềm tàng hiện có, và yêu cầu nào trong đó là những kim chỉ nam cho dự án cá nhân. Những ví dụ có thể kể đến như đảm bảo nhu cầu của những người tham gia nghiên cứu được đáp ứng, trong khi đó vẫn tuân theo những nguyên tắc về học thuật và giải quyết việc phân bổ những nguồn lực vốn hạn chế cho nghiên cứu, hay bất cứ những yêu cầu nào đến từ phía bên cung cấp quỹ. Điều này có thể dẫn tới những bài toán lựa chọn khó khăn giữa những yêu cầu nghiên cứu mang tiềm năng cạnh tranh này. Trong một vài trường hợp, những nhà nghiên cứu có thể sẽ làm việc một cách miễn cưỡng với những nhóm thiểu số do những quan ngại về những thử thách hay rào cản có thể sẽ xảy ra trong quá trình nghiên cứu.

Nhưng để nghiên cứu trở nên bao hàm toàn diện, những nhà nghiên cứu cần thay đổi suy nghĩ về những thử thách ấy và coi chúng như một cơ hội để học hỏi và thay đổi tình hình hiện tại. Nói cách khác, đó là thay đổi góc nhìn để đảm bảo rằng nghiên cứu được dẫn dắt bởi chính những nhu cầu và trải nghiệm sống chân thực của những nhóm thiểu số liên quan thay vì văn hóa nghiên cứu truyền thống và kiến thức chuyên môn. Ví dụ, những nhà nghiên cứu cần nhận thức được những nghiên cứu bao hàm toàn diện sẽ sử dụng nhiều nguồn lực hơn, nhưng công việc này cần được đánh giá một cách tích cực trên khía cạnh khả năng tiếp cận tới mọi người cao hơn. Chúng ta không nên hạ thấp giá trị của nghiên cứu toàn diện chỉ vì sự tốn kém hơn về tài chính hay sẽ cần nhiều thời gian hơn để có thể hoàn thành.

“Đảm bảo rằng nghiên cứu được dẫn dắt bởi chính những nhu cầu và trải nghiệm sống chân thực của những nhóm thiểu số liên quan thay vì văn hóa nghiên cứu truyền thống và kiến thức chuyên môn”

3. Bằng cách nào những đóng góp trong quá trình nghiên cứu được chứng nhận?

Với câu hỏi cuối cùng này, chúng ta cần xem xét vai trò của những nhóm thiểu số trong quá trình nghiên cứu. Chúng ta cần cân nhắc điều này cùng với những câu hỏi phía trước, rằng những người đã trải qua những rào cản để tham gia vào môi trường học thuật không thể trải nghiệm những nghiên cứu bao hàm toàn diện nếu như những dự án ấy được vận hành bởi một quy trình nghiên cứu truyền thống. Ví dụ như một dự án thành công có thể được đánh giá dựa theo chất lượng hoặc số lượng những bài báo đăng tạp chí hay những chương sách được xuất bản. Những cá nhân thuộc nhóm thiểu số có thể là nhân tố quan trọng trong sự hoàn thành trọn vẹn một dự án, bởi họ đã chia sẻ những trải nghiệm sống thật của mình như những dữ liệu nghiên cứu, nhưng có thể sẽ mãi không bao giờ chứng minh được sự cống hiến cho khoa học của mình. Vì vậy, chúng ta cần nghĩ đến những kết quả nào có thể được tạo ra mà sẽ tôn vinh giá trị thay vì loại trừ những sự đóng góp ấy.

Thêm vào đó, sự tham gia vào nghiên cứu là một quá trình có thời hạn nên làm sao chúng ta có thể đảm bảo rằng những nhóm thiểu số vốn đã tham gia không được coi như một công cụ thừa thãi một khi dự án đó kết thúc? Điều này có tính quan trọng đặc biệt nếu như những nhà nghiên cứu được nhận lương và có những dự án khác để tiến hành, trong khi những người khác đã đồng tham gia trước đó với họ có thể đã không được như vậy.

“Những người đã trải qua những rào cản để tham gia vào môi trường học thuật không thể trải nghiệm những nghiên cứu bao hàm toàn diện nếu như những dự án ấy được vận hành bởi một quy trình nghiên cứu truyền thống”. 

Trong thời kì với nhiều biến đổi và vận động đáng chú ý đối với giới học thuật, những nhà nghiên cứu đang đứng trước những cơ hội quan trọng để thử thách văn hóa nghiên cứu truyền thống với mục đích tạo ra một sự cam kết dài hạn cho việc gắn bó với những hoạt động nghiên cứu có tính dễ dàng tiếp cận và bao hàm toàn diện. Công việc ấy sẽ có lợi đối với tất cả các nhóm thiểu số và cả những nhóm nghiên cứu lớn hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu bao hàm toàn diện không chỉ dừng lại ở ba câu hỏi được phác thảo sơ lược trên đây, mà chúng có thể được mở rộng hơn hay thêm vào những câu hỏi khác. Việc những nhà nghiên cứu tư duy phản biện với những câu hỏi có thể áp dụng được với công việc của họ là điều vô cùng quan trọng, để sự cam kết của họ đối với nghiên cứu bao hàm được thúc đẩy từ giai đoạn bắt đầu của bất cứ dự án nào mà họ đang hoặc sẽ tham gia.

Thúy Quỳnh, Phương Hà dịch

Nguồn

Stuart Read, Anne Parfitt, Tanvir Bush. (October 27th, 2020). How do we know that our research is ‘inclusive’?. LSE Blog

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn