fbpx

LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM: CÁC VẤN ĐỀ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Lao động trẻ em (child labor) là một vấn đề phổ biến trong các quốc gia đang phát triển. Việt Nam là một trong những quốc gia mới có nguy cơ lao động trẻ em cao. Mặc dù đã có một số lượng đáng kể các công bố về lao động trẻ em và các vấn đề liên quan trong bối cảnh Việt Nam, hầu hết chúng đều là các phân tích mô tả, tập trung vào mối liên hệ giữa nghèo đói và lao động trẻ em. Do đó, vấn đề lao động trẻ em cần được nghiên cứu và quan sát chặt chẽ hơn và liên tục hơn. Nghiên cứu của nhóm tác giả Giang Thanh Long (Đại học Kinh tế Quốc dân; Đại học Thăng Long), Nguyễn Tường Vân (MAKNA Việt Nam) Nguyễn Đăng Tuệ (Đại học Bách Khoa Hà Nội)  tìm hiểu tình hình lao động trẻ em sử dụng dữ liệu của Khảo sát mức sống hộ gia đình năm Việt Nam 2012 và xác định các yếu tố quyết định tình trạng lao động của trẻ từ 6 – 17 tuổi. 

Trong số 7426 trẻ được khảo sát, có 721 là lao động trẻ em. Trong đó, nhóm trẻ 15-17 tuổi chiếm gần 60%, trẻ nam chiến gần 56%, trẻ đến từ khu vực nông thôn chiếm gần 87%. 

Xem xét thu nhập hàng tháng, trong số 721 lao động trẻ em, có tới 419 trẻ không được trả công. Mặc dù số lượng trẻ nam tham gia lao động cao hơn và lao động với số giờ cao hơn trẻ nữ, số lượng trẻ nam không được trả công lại cao hơn và tỉ lệ trẻ nam có mức thu nhập nằm trong ngưỡng cao nhất lại ít hơn trẻ nữ.

Về các yếu tố quyết định tình trạng lao động, trẻ em có trình độ học vấn tốt hơn có xác suất trở thành lao đông trẻ em thấp hơn 30% so với trẻ có trình độ học vấn thấp hơn. Kết quả này phản ánh sự đánh đổi giữa việc tham gia vào thị trường lao động và việc đi học. Về đặc điểm dân tộc, phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ nghịch chiều có ý nghĩa giữa trẻ em người Kinh và tình trạng lao động trẻ em. Phát hiện này là dễ hiểu bởi trẻ em người Kinh thường có điều kiện kinh tế – xã hội tốt hơn. 

Tranh: Sarah Chanh/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Về các đặc điểm gia đình, quy mô hộ gia đình có mối quan hệ nghịch chiều với tỉ lệ trẻ trở thành lao động trẻ em. Trẻ đến từ các hộ gia đình neo người hơn có tỉ lệ tham gia vào hoạt động kinh tế thấp hơn, và trong số những trẻ được xác định là lao động trẻ em, những trẻ đến từ các gia đình ít người hơn cũng được nhận thấy là có số giờ làm việc nhiều hơn những trẻ đến từ gia đình đông đúc hơn. Nghiên cứu cũng nhận thấy tương quan nghịch chiều giữa trình độ học vấn của gia đình (được xác định bởi trình độ học vấn cao nhất của một thành viên trong gia đình) với tình trạng lao động trẻ em. Tức là nếu gia đình có trình độ học vấn càng cao, trẻ càng có ít xác suất phải tham gia lao động kinh tế. 

Một kết quả thú vị nhóm tác giả nhận thấy là số người trưởng thành có việc làm trong gia đình và tình trạng tín dụng của hộ gia đình có ảnh hưởng thuận chiều tới việc trẻ phải trở thành người lao động. Những gia đình có số người trưởng thành đi làm càng nhiều có tỉ lệ trẻ phải lao động kinh tế cao hơn. Tác động thuận chiều của tình trạng tín dụng có thể được giải thích rằng tình trạng thiếu lao động có thể xảy ra khi gia đình sử dụng vốn tín dụng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. 

Từ các kết quả phân tích, nhóm tác giả đưa ra một só hàm ý về mặt chính sách, bao gồm:

– Chính phủ cần rà soát, bổ sung các hình phạt nghiêm khắc hơn đối với những bên sử dụng lao động trẻ em; nâng cao giới hạn độ tuổi của trẻ em;

– Các hộ gia đình cần được tuyên truyền về hậu quả của lao động trẻ em tới sự phát triển của trẻ, đặc biệt là các gia đình vùng nông thôn và dân tộc thiểu số;

– Cần chú trọng cung cấp giáo dục công không chỉ cho nhóm trẻ em mà cả những thành viên của gia đình, bởi nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa trình độ học vấn của các người lớn trong gia đình với tỉ lệ trẻ tham gia lao động kinh tế;

– Các điều kiện về việc học tập của trẻ cần được thêm vào tiêu chí ưu đãi tín dụng cho các hộ gia đình khó khăn để đảm bảo rằng trẻ em không bị lạm dụng trong quá trình gia đình mở rộng việc kinh doanh/sản xuất;

– Cần thực thi các chương trình giáo dục văn hóa và/hoặc dạy nghề cũng như các chương trình chăm sóc sức khỏe để hỗ trợ lao động trẻ em.

Chi tiết nghiên cứu:

Giang, L. T., Nguyen, V. T., & Nguyen, T. D. (2021). Child labor in Vietnam: Issues and policy implications. Children and Youth Services Review, 130, 106222. 

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn