fbpx

LIỆU COVID-19 CÓ TRỞ THÀNH DẤU CHẤM HẾT CHO CÁC MÔ HÌNH XUẤT BẢN KHOA HỌC HIỆN NAY?

Dưới sức ép của cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu, vấn đề tranh cãi về quyền truy cập mở đã dần lắng xuống. Hướng ứng lời kêu gọi của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các nhà lãnh đạo chính phủ, hơn 150 nhà xuất bản, cơ quan và tổ chức nghiên cứu đã chấp thuận phương án tạm thời để mọi bài viết có nội dung liên quan tới COVID-19 ở chế độ xem công khai, đảm bảo các nỗ lực tìm hiểu về virus này không bị gián đoạn.

Việc này mang đến một kết quả trông giống như một cuộc đua tiếp sức ấn tượng nhất trong lịch sử. Hàng chục, đôi khi là hàng trăm nghiên cứu được xuất bản mỗi ngày, với hàng loạt trích dẫn trên khắp thế giới. Những thông tin về các đột biến di truyền của virus, những manh mối cho sự lây lan của nó đã lấp đầy hàng nghìn cơ sở dữ liệu. Và một nền văn hóa chia sẻ dữ liệu mới đã thúc đẩy sự hợp tác khoa học phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Vì vậy, câu hỏi được đặt ra là: Liệu đại dịch này có trở thành một chất xúc tác làm phá vỡ những trói buộc của mô hình xuất bản cũ kỹ và lạc hậu mãi mãi?

Một chân trời mới

Trước đây, thời gian kể từ khi một nhà nghiên cứu nộp bản thảo cho tới khi nó được xuất bản thường phải mất khoảng vài tháng (thậm chí là vài năm hoặc hơn). Sau khi được xuất bản, nội dung bài viết đó lại bị “khoá”, chỉ có một số được tiếp cận thông qua việc đăng ký khá phức tạp hoặc phải trả khoản phí khoảng 30$ cho mỗi bài báo. Công chúng, những người đã đóng tiền thuế tài trợ cho phần lớn các sản phẩm khoa học của quốc gia chỉ có thể xem bài viết đó sau thời gian “cấm vận” từ sáu tháng đến bốn năm, tùy thuộc vào tạp chí đăng bài viết đó.

Tuy nhiên, sau khi đại dịch bùng nổ, mọi chuyện lại trở nên hoàn toàn khác. Hầu hết các tạp chí lớn đã tạm thời xóa bỏ bức tường phí đối với những nội dung về COVID-19, thể hiện sự đóng góp của họ cho việc hỗ trợ nghiên cứu về dịch bệnh này. Nhiều nhà xuất bản cũng đang xúc tiến nhanh việc xử lý các bài viết liên quan đến COVID-19. Dẫu vậy, các tạp chí không thể nào theo kịp với tiến độ nghiên cứu chóng mặt của các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu chuyển qua đăng tải preprint – phiên bản truy cập mở của các nghiên cứu được chia sẻ trước khi được phản biện hoặc xuất bản chính thức. Các nhà khoa học đăng các bản thảo của mình lên các kho lưu trữ mở, ở đó, mọi người có thể lên đọc và thảo luận về các phát hiện trong bài. 

Các hệ thống preprint như thế trong mấy tháng gần đây như bùng nổ với những nội dung mới. Tính đến tháng 6, đã có hơn 5000 bài viết mới về virus đã được đăng tải lên bioRxiv và medRxiv – những hệ thống dẫn đầu về các bài viết trong lĩnh vực sinh học và y học.

Điểm thu hút của những bản preprint này rất rõ ràng: dễ tiếp cận và tốc độ nhanh. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu có thể ngay lập tức truy cập được vào bài viết khoa học, từ đó tránh được việc lặp lại các thí nghiệm không cần thiết. Nhưng đổi lại là một bất lợi: các bản preprint đó chưa được phản biện – thứ được ví như bài kiểm tra tiêu chuẩn của nội dung khoa học chất lượng.

(Tuy vậy phần lớn các máy chủ preprint cũng đã có tích hợp một số biện pháp để kiểm soát chất lượng bài. Ví dụ, những bản preprint trên bioRxiv và medRxiv đều được các chuyên gia trong ngành và nhân viên kiểm tra sàng lọc, các cách thức sàng lọc còn chặt chẽ hơn nữa cho các nội dung có liên quan tới COVID-19.)

Nhóm nghiên cứu của Benjamin-Chung đang liên tục ngụp lặn trong các dữ liệu nghiên cứu về thử nghiệm COVID-19 ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác, áp dụng các mô hình thống kê để ước tính số ca nhiễm ban đầu ở Hoa Kỳ có thể sẽ là bao nhiêu nếu như việc test virus được thực hiện mạnh mẽ ngay từ đầu.

Theo ước tính của nhóm, số lượng ca nhiễm cực kì lớn, cụ thể gấp hơn 9 lần so với những gì được báo cáo ban đầu, hay xấp xỉ 6,3 triệu ca nhiễm vào ngày 18 tháng 4, trích theo bản preprint.

“Một lợi thế rất lớn của việc đăng tải bài viết nhanh là nó có thể lập tức cung cấp thông tin cho các nghiên cứu khác. Nhưng điều đó có nghĩa là nếu chúng ta sử dụng preprint làm phương tiện thông báo cho nghiên cứu của mình, chúng ta phải tự mình kiểm duyệt chúng rất cẩn thận”

Benjamin-Chung

Mô hình này được củng cố bởi nhiều bài nghiên cứu và preprint, bao gồm các nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên những người không có triệu chứng đối với vi-rút và các nghiên cứu kiểm tra độ chính xác của các xét nghiệm chẩn đoán.

“Chúng tôi đang tìm kiếm các nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới.” Cô nói. “Và nếu các nhà nghiên cứu khác không đăng tải nghiên cứu của họ lên các hệ thống preprint, chúng tôi sẽ không thể phát triển mô hình của mình một cách nhanh chóng được.”

Tốt hơn, nhanh hơn và mạnh hơn

Preprint chỉ là một phần của bức tranh tổng thể. Có cả một đại dương những khám phá quan trọng có thể tiếp cận ngay lập tức, nhưng cũng đồng thời có một đại dương những nghiên cứu sâu xa, mơ hồ để lội qua.

Một lần nữa, truy cập mở là vô cùng cần thiết. Nếu một trở ngại lớn trong việc xuất bản là quá trình phản biện kéo dài, thì giải pháp cho việc đó sẽ trông giống như cả một mạng lưới các nhà khoa học trên toàn thế giới được triển khai cùng một lúc.

Một trong những nỗ lực liên hiệp đó là tạp chí Đánh giá nhanh: COVID-19, một sáng kiến tạp chí truy cập mở mới ra mắt gần đây bởi UC Berkeley và MIT Press. Được dựng lên để cân bằng giữa tốc độ xuất bản và tính nghiêm ngặt về mặt khoa học, tạp chí sử dụng phần mềm Học Máy (Machine Learning – được phát triển tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley) cùng với một nhóm tình nguyện viên toàn cầu giúp thu thập và sàng lọc các bản preprint mỗi tuần. Thông qua việc thu thập thông tin trên internet như các đề cập trên mạng xã hội và báo cáo của các trường đại học, nhóm có thể nhanh chóng xác định các nghiên cứu có triển vọng cần được xét duyệt. 

Hildy Fong Baker, chủ biên của tạp chí cho biết, trọng tâm của mô hình đó là khả năng tiếp cận rộng rãi với các tài liệu. “Chúng tôi muốn có một môi trường xuất bản phù hợp với cả các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu cũng như công chúng đang muốn hiểu về nó, cũng chính là những người có thể có cuộc sống tốt hơn nhờ nó. Truy cập mở là chìa khóa then chốt để đạt được điều này.” Hildy Fong Baker (Giám đốc điều hành của Trung tâm Y tế Công cộng Toàn cầu UC Berkeley và Trung tâm UC Berkeley-UCSF về Cung cấp Sức khỏe Toàn cầu, Ngoại giao và Kinh tế) cho biết. 

Cô nói thêm, “Chúng tôi cần có quyền truy cập vào các hệ thống mở để có thể hiện thực hóa ý tưởng đó, nếu không vào được thì chúng tôi sẽ chẳng có gì để xét duyệt cả.”

Tuy vậy, ngay cả khi không có các tạp chí, internet đã có cả một đội quân tiên phong ảo của riêng mình: công chúng. Bởi vì mọi thứ đều được công khai, một hệ thống bình duyệt đặc biệt đã xuất hiện ở khắp các diễn đàn khoa học và mạng xã hội gồm với các nhà nghiên cứu đến từ khắp nơi trên thế giới.

Nhóm nghiên cứu của Martyn T. Smith gần đây đã đặt ra câu hỏi về việc tại sao có những người nhạy cảm hơn vi-rút, và đưa ra giả thuyết rằng chế độ ăn uống có thể đóng một vai trò trong việc này. Smith cùng các đồng nghiệp sau đó đã đăng tải một bản preprint với kết quả rằng: thực phẩm giàu chất flavonoid – bao gồm nhiều loại rau, trái cây và một số loại trà – có thể giúp tránh nhiễm bệnh.

Không lâu sau khi được đăng tải trên hệ thống preprint (nghiên cứu chưa được phản biện), các nhà nghiên cứu khác đã nhanh chóng đưa ra các bình luận, nhận xét rằng việc sử dụng quá nhiều các hợp chất tự nhiên (như flavonoid) có thể sẽ gây hại. Nhờ đó, Smith có thể nhanh chóng phản hồi và chỉnh sửa bản thảo của mình. Kết quả của nghiên cứu có thêm cảnh báo về việc tiêu thụ quá mức flavonoid.

“Tinh thần của một cao bồi”

Hệ thống preprint đầu tiên – arXiv – được ra mắt vào năm 1991 tại phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, với mục đích như là một kho lưu trữ từ xa cho các nghiên cứu mới trong vật lý. Preprint đã phổ biến trong các lĩnh vực vật lý, toán và khoa học máy tính từ lâu, nhưng các ngành sinh học và y dược mới chỉ chú ý tới hệ thống này trong thời gian gần đây, với bioRxiv và medRxiv xuất hiện lần lượt vào năm 2013 và 2019.

Trước đây, các tạp chí từng có chính sách cấm vận rất nặng nề. Những tạp chí thương mại thậm chí từng yêu cầu tác giả của các nghiên cứu được công bố ở tạp chí của họ không được trình bày lại kết quả ở hội thảo, nếu không sẽ cân nhắc rút bài báo. 

Hiện nay, gần như tất cả các trang tạp chí lớn đều cho phép các nhà nghiên cứu đăng tải các nghiên cứu của họ lên các máy chủ preprint trước khi xuất bản chính thức, trong một số trường hợp họ còn được khuyến khích làm như vậy. Kể từ đó, số lượng bản thảo được đăng trên các hệ thống preprint đã có một bước nhảy vọt. Theo một nghiên cứu trên eLife, số bản preprint được đăng lên bioRxiv vào năm 2018 còn nhiều hơn so với 4 năm trước đó cộng lại. 

Nhưng các rào cản vẫn còn đó. Một số tạp chí vẫn nghiêm cấm việc chia sẻ bản preprint, số khác thì đưa ra các chính sách mơ hồ. Có những rào cản đến từ phía cá nhân các nhà nghiên cứu. Một số sợ bị “hớt tay trên” – tức lo lắng người khác sẽ sao chép các thí nghiệm và dữ liệu của họ. Một số lo lắng rằng nó sẽ mang lại lợi thế cho các đối thủ của họ. Emilie Marcus, tổng biên tập của tạp chí Cell và CEO của Cell Press vào thời điểm năm 2016, đã cảnh báo các nhà nghiên cứu không được dẫn nguồn trích dẫn từ các bài viết preprint, giải thích rằng làm thế sẽ tạo ra một quá trình giúp “bài viết kém chất lượng đi cửa sau vào các hệ thống uy tín”. 

Randy Schekman, nhà khoa học đạt giải Nobel năm 2013 và hiện đang công tác tại UC Berkeley cho rằng “Nó là một phần của văn hóa độc hại trong giới học thuật, văn hoá đề cao chủ nghĩa cá nhân hơn tính tập thể và sự hợp tác.”

“Nó là một phần của văn hóa độc hại trong giới học thuật, văn hoá đề cao chủ nghĩa cá nhân hơn tính tập thể và sự hợp tác.”

Theo một nghiên cứu năm 2018 trên tạp chí truy cập mở PLOS Medicine, các bài viết preprint đã thúc đẩy đáng kể việc phổ biến nghiên cứu trong đợt bùng phát dịch Zika 2015 – 2016, và đợt bùng phát dịch Ebola 2013 – 2016. Nhưng chỉ có 5% các bài báo về hai căn bệnh này được đăng tải lần đầu dưới dạng preprint, theo nghiên cứu thống kê. Thời gian đó, WHO đã kêu gọi việc để quyền truy cập mở tới các dữ liệu nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng trong các tình huống khẩn cấp tương lai.

“Mặc dù các bản preprint đúng là còn cần những xem xét, phản biện kỹ lưỡng, nó là tất cả những gì chúng ta có trong thời điểm hiện tại. Bạn không thể ngồi không và nói rằng “Dữ liệu đó chưa thể sử dụng được’”, Ann Glusker, nhà nghiên cứu tại Đại học Berkeley nhận định.

“Sẽ có một cuộc cách mạng”

“Mọi người lúc này đều nhận ra rằng lúc này việc lưu trữ dữ liệu cho riêng mình sẽ chỉ cản trở quá trình chống lại COVID-19,” Benjamin-Chung nhận định. Nhưng điều mà cô ấy mong muốn là kể cả sau khi (đại dịch) kết thúc, việc chia sẻ dữ liệu vẫn tiếp tục phát triển.

Để việc đó trở nên khả thi, cần một sự chuyển biến theo thứ tự của cả hệ hình. Bắt đầu từ các nhà nghiên cứu đã quen với việc tích trữ dữ liệu cho các tạp chí thương mại, những tạp chí vốn từ lâu đã cung cấp được nhiều động lực để thúc đẩy họ duy trì việc đó.

Và giờ áp lực đang tăng cao: Nhà Trắng hiện đang xem xét một chính sách bắt buộc rằng tất cả các nghiên cứu được tài trợ bởi liên bang phải được xuất bản với quyền truy cập mở, kể cả những bài không liên quan tới đại dịch. (Các nhà xuất bản đã cùng nhau liên hiệp để phản đối bằng cách gửi một lá thư lên tổng thống Donald Trump cảnh báo rằng quyết định này sẽ ‘gây nguy hại cho các tài sản trí tuệ của các tổ chức của Mỹ’ và ‘buộc chúng tôi phải cho không tất cả số thông tin đó cho phần còn lại của thế giới’). Nếu không có những chính sách như vậy, các nhà xuất bản chắc chắn sẽ loại bỏ quyền truy cập mở khi mọi chuyện bắt đầu lắng xuống. Ít nhất là họ sẽ cố để thử.

Linh Chi, Quốc Việt lược dịch

Nguồn:

Virgie Hoban. (August 04, 2020). Will COVID-19 mark the end of scientific publishing as we know it? Phys.org

Đăng ký Nhận bản tin

error: Content is protected !!