fbpx

MỘT THÍ NGHIỆM TỰ NHIÊN ĐẶC BIỆT

COVID-19 là một thảm họa toàn cầu, nhưng nó cũng là một cơ hội “có một không hai” để nghiên cứu hành vi của con người.

Khi đại dịch bùng phát vào giữa tháng Ba, nhà tâm lý học Kristen Shockley đã nhận được một email có nội dung làm đảo lộn hoàn toàn cuộc sống của cô: Nhà trẻ của con trai cô phải đóng cửa. Giờ đây, Shockley cùng với chồng của mình – một giám đốc điều hành khởi nghiệp – đều có công việc toàn thời gian; phải kiêm thêm việc giám sát đứa con trai 15 tháng tuổi của mình, và đương nhiên không phải bằng cách cho con xem TV cả ngày. Nhưng ngay cả khi đang lo lắng về cách cân bằng giữa hai công việc này, Shockley, vốn là một trợ lý giáo sư tại Đại học Georgia chuyên nghiên cứu về sự giao thoa giữa công việc và đời sống gia đình, lại nhận thấy một cơ hội – “Đây sẽ là một nghiên cứu cực kỳ thú vị!” cô ấy tự nhủ.

Các ý tưởng nghiên cứu

Với ý định vừa nhen nhóm, chỉ trong vài ngày, Shockley đã gửi đi hơn 300 khảo sát tới các cặp vợ chồng mà cả 2 đều đi làm và đang phải đối mặt với tình trạng dịch vụ chăm sóc con nhỏ bị gián đoạn. Cô hy vọng có thể tìm hiểu được cách mà các cặp vợ chồng xoay sở qua cuộc khủng hoảng này (liệu họ sẽ dồn toàn bộ việc trông trẻ cho một phụ huynh, luân phiên thay nhau trong ngày, hay chuyển hết việc trông trẻ cho ông bà?), yếu tố giới tính đóng vai trò thế nào trong các quyết định đó, và liệu các yếu tố sinh hoạt trong gia đình, sức khỏe và hiệu suất công việc tốt hơn có liên quan tới các lựa chọn đấy không. “Tôi quan tâm tới một góc nhìn tổng quát về cách các cặp đôi sắp xếp công việc của họ,” Shockley chia sẻ. “Hiện vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chất lượng và chắc chắn nào về chủ đề này cả. Nên tôi nghĩ, ‘Chà, đây đúng là một mô hình thu nhỏ hoàn hảo, bởi vì mọi người đang phải buộc đưa ra những quyết định – họ bất khả kháng phải làm vậy.”

Trong suốt 6 tháng hoành hành, đại dịch virus corona đã tái thiết lập lại cuộc sống thường ngày; hàng loạt những trường học đóng cửa, người lao động bị mất việc và buộc phải ở yên tại nhà. Những thay đổi trên đã khiến xã hội và kinh tế rơi vào cảnh hỗn loạn – nhưng đồng thời cũng là cơ hội nghiên cứu có một không hai cho các nhà khoa học xã hội, tạo ra một “thí nghiệm tự nhiên” có thể giúp trả lời những câu hỏi về các vấn đề từ mối quan hệ trong gia đình, đến mức độ ảnh hưởng của sự bất an kinh tế đối tới những quan điểm về chính sách của chính phủ.

Vào tháng 9 vừa qua, bản khảo sát cộng đồng “COVID 19 Social Science Research Tracker” (Bảng theo dõi nghiên cứu khoa học xã hội trong COVID-19) đã liệt kê ra hơn 300 dự án – và con số đó chỉ mới là “phần nổi của tảng băng chìm”, dẫn lời J. Nathan Matias, đồng sáng lập của bảng theo dõi và là trợ lý giáo sư về truyền thông tại đại học Cornell

Ảnh: Một học sinh đang dự lớp học online ở nhà tại Miami vào thứ Ba. Một nhóm nghiên cứu đang tìm hiểu liệu sự gián đoạn tại trường học có dẫn tới những thay đổi về hành vi của trẻ, như khả năng vận động và giờ đi ngủ không. (Jayme Gershen/Bloomberg News)

Ngoài ra, truyền thông về sức khỏe cộng đồng cũng là một chủ đề nghiên cứu đáng lưu ý trong thời kỳ này. Trong hai nghiên cứu vào tháng 3 với 2200 khách thể, các nhà khoa học đã so sánh 3 cách tiếp cận khác nhau với mục đích khuyến khích cộng đồng nên có ý thức tự bảo bảo vệ bản thân mình khỏi virus (Ví dụ: rửa tay): Cách đầu tiên nhấn mạnh vào việc bảo vệ cá nhân, cách thứ hai tập trung vào việc bảo vệ cộng đồng, và thứ ba là kết hợp cả hai ý tưởng. Các thông điệp hướng tới cộng đồng cho thấy hiệu quả truyền thông lớn nhất, một kết quả “nhìn chung phù hợp với quan niệm rằng mọi người là những tác nhân đạo đức không chỉ quan tâm đến bản thân, mà còn quan tâm đến người khác,” trích lời Jillian Jordan, một trợ lý giáo sư tại trường Kinh Doanh Harvard và là đồng tác giả của nghiên cứu.

Bên cạnh đó, một nhóm nghiên cứu khác đang điều tra liệu phân biệt giới tính có phải là một nhân tố ảnh hưởng tới cách người dân tiếp nhận những thông tin liên quan tới virus corona. Theo Sebawit Bishu, người đứng đầu nhóm nghiên cứu và hiện đang là phó giáo sư về quản lý và hành chính công tại Trường đại học Colorado (bang Denver), phân tích ban đầu hiện vẫn chưa được công bố của nghiên cứu cho thấy, các thống đốc là nam giới được nhìn nhận như là người tuyên truyền chính sách về đại dịch tốt hơn, và các cư dân của các bang có thống đốc là nam giới cũng tỏ ra tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng hơn.

Tuy nhiên, các cơ hội nghiên cứu không chỉ giới hạn xoay quanh cuộc khủng hoảng y tế và những nỗ lực để chống lại nó. Trong suốt những năm vừa qua, các nhà nghiên cứu tại đại học South Carolina đã dõi theo hàng trăm học sinh để tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa việc có một lịch trình quy củ – một thói quen hàng ngày đã được lên kế hoạch trước với những hoạt động cụ thể bắt buộc – và sức khỏe của chúng. Họ xem xét liệu các học sinh đi học quanh năm có duy trì được chế độ dinh dưỡng, ngủ nghỉ và hoạt động tốt hơn những sinh viên có kỳ nghỉ hè dài hơi hay không. Và rồi các trường học buộc phải đóng cửa.

Ban đầu, các nhà khoa học đã “tỏ ra rất buồn bã” khi đại dịch này đã làm đảo lộn cuộc nghiên cứu được thiết kế cẩn thận của họ. Nhưng rồi họ quyết định tận dụng sự đảo lộn này. Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã gửi Fitbit – một ứng dụng hỗ trợ ngủ và sinh hoạt qua mail tới cho 74 em học sinh đăng ký vào chương trình nghiên cứu của họ, đồng thời thu thập dữ liệu về chế độ dinh dưỡng và thời gian biểu hàng ngày của các em. Chuyện gì sẽ xảy ra khi các gia đình bị buộc phải tạo dựng những thói quen mới trong một thời gian ngắn? Liệu lũ trẻ có trở nên ít vận động hơn không? Thức khuya hơn? Thời gian sử dụng thiết bị điện tử tăng lên bao nhiêu? Giờ ăn uống nhất quán hoặc các lớp học trực tuyến được lên lịch có thể giảm thiểu những ảnh hưởng đó không? Khi lũ trẻ đi học trở lại, liệu những thói quen lành mạnh sẽ trở lại hay không – và sẽ nhanh tới cỡ nào? Theo Armstrong, nhà nghiên cứu chính của dự án, đại dịch này đã mang lại một cơ hội thực sự không thể tuyệt hơn để xem xét việc: Các thói quen được hình thành thế nào?

Một trong những phát hiện trong bài nghiên cứu đang trong quá trình phản biện của Shockley về các cặp vợ chồng mà cả hai cùng đi làm đó là: phương án dồn toàn bộ việc trông trẻ cho một phụ huynh, trong khi phụ huynh đó cũng đang cố gắng để làm việc từ xa sẽ dẫn tới mức độ hòa hợp của gia đình bị kéo xuống mức thấp nhất, và mức độ căng thẳng trong mối quan hệ tăng lên mức cao nhất. Tuy vậy, vẫn có hơn 30% cặp đôi chọn cách thức này, trong đó có 87% cặp đôi mà ở đó phái nữ là người phải chịu gánh nặng trông nom con cái. Kỳ lạ thay, cách sắp xếp này lại dẫn đến hiệu quả công việc kém nhất ở cả phái nam. Một khả năng là cách sắp xếp đó đã tạo nên một bầu không khí căng thẳng tại nhà, làm giảm khoảng thời gian thực tế mà phái nam có thể dành cho công việc.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại đại học Stanford đang theo dõi liệu cuộc suy thoái kinh tế mạnh mẽ và phản ứng của chính phủ – bao gồm mở rộng những khoản trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp bằng tiền mặt cho cả triệu người Mỹ – có làm thay đổi quan điểm của đại chúng về thu nhập cơ bản hay không, chẳng hạn như chính sách “Freedom Dividend” về cung cấp 1000$ mỗi tháng do cựu ứng viên đảng Dân chủ Andrew Yang đề xuất. Các nhà nghiên cứu đặc biệt tập trung vào những góc nhìn khác nhau của các cá nhân có hệ tư tưởng khác nhau. Hiện nghiên cứu vẫn đang được tiến hành, nhưng những phát hiện của họ cho thấy rằng sự ủng hộ dành cho chính sách này đã tăng nhẹ trong những ngày đầu của đại dịch – đáng chú ý nhất là trong cộng đồng phe bảo thủ, vốn là những người có nhiều hoài nghi hơn về thu nhập cơ bản – trước khi giảm trở lại mức khởi điểm vào mùa hè này.

Các nhà cải cách tư pháp hình sự từ lâu đã kêu gọi giảm số lượng phạm nhân ngồi tù. Đại dịch này đang làm ảnh hưởng nặng nề tới hệ thống nhà giam, qua đó tạo ra một cơ hội để nghiên cứu về hậu quả của ý tưởng trên. Để ngăn chặn sự lây lan của virus, một số cơ sở cải tạo đã cho ân xá những phạm nhân có xu hướng phi bạo lực và sức khỏe yếu; một số nơi như New Jersey hiện đang trong quá trình ân xá khoảng 20% số phạm nhân mà bang đang giam giữ. Daniel Nagin (giáo sư về chính sách công và thống kê tại Đại học Carnegie Mellon) đang theo dõi những thay đổi về quy mô các nhà tù cải tạo tại Mỹ đối với tỷ lệ các tội hình sự khác nhau. Nagin kể lại rằng: “Tôi đã nghe một vài cảnh sát trưởng nói ‘Ơ, anh đang muốn thả cả đống phạm nhân đó ra khỏi tù, chuyện đó sẽ làm tỷ lệ tội phạm gia tăng đấy’. Vậy có bằng chứng nào cho thấy điều đó là đúng không?”

Một nghiên cứu về tỷ lệ tội phạm bởi Hội đồng Tư pháp Hình sự tại 27 thành phố trong mùa đại dịch đã phát hiện thấy số vụ giết người và hành hung nghiêm trọng đã tăng vào tháng 5 và 6 – nhưng những vi phạm khác, bao gồm cả trộm cắp và tội phạm ma túy, đã giảm trong khoảng giữa tháng 2 và tháng 6. Tuy nhiên, kết quả sẽ phải cần nhiều thời gian và phân tích hơn để xác định xem có bất kỳ mối liên hệ nào với quyết định ân xá đó hay không. Xét cho cùng, đây cũng là một năm với nhiều biến động, với tỷ lệ thất nghiệp tràn lan, căng thẳng cá nhân và bất ổn xã hội tăng cao, tất cả đều có thể ảnh hưởng tới hoạt động phạm tội.

Ảnh: Một biển báo ở Brooklyn vào mùa xuân này nhắc nhở những người đi làm họ có thể làm được những gì để ngăn chặn sự lây lan của virus corona. Đại dịch này đã tạo cơ hội cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu những phương pháp lan truyền các thông điệp về sức khỏe cộng đồng (Wong Maye-E/AP)

Thận trọng với kết quả nghiên cứu

Xuất phát từ những nghiên cứu trên, một câu hỏi được đặt ra: Liệu việc có quá nhiều yếu tố bị thay đổi cùng một lúc sẽ khiến việc đưa ra những kết luận tổng quát khó khăn hơn hay không? “Nguyên tắc của thí nghiệm là bạn thay đổi một yếu tố, và bạn quan sát những sự thay đổi mà yếu tố đó tạo ra, vì vậy bạn cần cố gắng để giữ cho các yếu tố khác không đổi.”  Nhưng trong trường hợp này, “chuyện đó không xảy ra. Vì tất cả mọi thứ đều thay đổi” Michael Sanders, phó giáo sư về chính sách công tại đại học King tại London chia sẻ.

Trẻ em hình thành những thói quen thiếu lành mạnh là do một ngày không còn được sắp đặt theo quy củ hay bởi chúng bị áp lực trước đại dịch nguy hiểm? Nếu năng suất làm việc bị suy giảm, liệu có phải là do làm việc từ xa vốn đã không có hiệu quả từ đầu, hay bởi vì người lao động đang phải cùng lúc cáng đáng công việc của mình và giúp con cái của họ đăng nhập vào các lớp học trực tuyến trên Zoom?

Hơn nữa, đại dịch này cũng tạo ra một sự biến thiên rất lớn. Jordan và các đồng nghiệp của cô ở đại học Harvard khi tiến hành giai đoạn tiếp theo trong nghiên cứu về truyền thông thông điệp sức khỏe (sau 1 tháng kể từ khảo sát đầu tiên) đã nhận thấy rằng, các thông điệp tập trung vào bảo vệ bản thân và đề cao bảo vệ cộng đồng đều thể hiện tốt như nhau. Sự khác biệt có thể xuất phát từ thực thế là các nhà nghiên cứu đã chỉnh sửa những thông điệp một chút (để phản ánh sự hiểu biết đang ngày càng tăng về virus); hay như Jordan chú thích, có lẽ “tâm lý của mọi người đã thay đổi trong quãng thời gian đại dịch này tiếp diễn.” Nhưng cũng đơn giản có thể chỉ là do lỗi khi lấy mẫu thống kê.

Chỉ riêng số lượng bài viết và tốc độ mà chúng được tung ra làm các nhà khoa học không khỏi lo lắng. Matias, giáo sư truyền thông của Cornell, nhận định: “Chúng ta có thể thấy rõ những áp lực và nhu cầu đáng kinh ngạc để tạo ra kiến thức trong khoảng thời gian này, và điều đó có thể dẫn tới những sai lầm”. Thật vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu đã được đăng tải trực tuyến trước khi được bình duyệt.

Về cơ bản, nhiều nhà khoa học nhận định rằng sự thận trọng phải được bảo đảm – nhất là khi nghiên cứu được biên soạn để định hình lại các chính sách y tế công cộng. Trong một nghiên cứu mới hiện vẫn còn đang được phản biện, một nhóm các nhà tâm lý học quốc tế đã đặt ra câu hỏi rằng, liệu khoa học hành vi “đã đủ chín chắn” để định hướng phản ứng của chúng ta trong thời điểm xảy ra thảm họa như đại dịch này hay không. Từ lâu trước khi virus corona xuất hiện, lĩnh vực này vốn luôn đau đầu với những câu hỏi về độ tin cậy và hợp lệ của các phương pháp cũng như phát hiện của nó.

Ngay cả những người đang hoài nghi cũng biết rằng số đông các nhà khoa học đang cố gắng hết sức có thể trong hoàn cảnh khó khăn này. Nhưng họ thúc giục các nhà khoa học xã hội phải thừa nhận những hạn chế trong nghiên cứu của họ và truyền đạt những phát hiện của họ bằng sự tinh tế và khiêm tốn. “Dường như ngày nào tôi cũng thấy những tuyên bố táo bạo,” Matias chia sẻ. “Tôi nghĩ trong một thời gian, chúng tôi sẽ phải vật lộn với định kiến về cách mà lĩnh vực chúng tôi nên hoạt động thế này trong thời điểm khủng hoảng này.”

Bất chấp những thách thức, đây là thời điểm dành cho những cơ hội to lớn. Những hiểu biết mới về truyền thông thông tin sức khỏe cộng đồng có thể cứu sống vô số sinh mạng không chỉ trong đại dịch này, mà còn cả những thảm họa về sức khỏe khác có thể xảy ra về sau. Và trong khi các học giả đương nhiên sẽ không muốn những cuộc “thử nghiệm tự nhiên” đặc biệt như vậy xảy ra, họ vẫn đang nắm bắt cơ hội này để tìm hiểu những gì có thể về hành vi, niềm tin và những mối quan hệ của con người. 

Cuối cùng, dù những kiến thức thu được sẽ không thể nào bù đắp được bệnh tật và những cái chết chúng ta đã phải chứng kiến trong năm 2020, nhưng nhìn nhận ở một khía cạnh tích cực hơn, những kết quả nghiên cứu này hy vọng có thể đóng góp một phần giá trị giúp cải thiện cuộc sống con người trong tương lai khi mà dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm.

Đăng ký Nhận bản tin

error: Content is protected !!