fbpx

NGÂN HÀNG CÓ TÍCH LŨY ĐƯỢC VỐN TRÍ TUỆ CAO HƠN? BẰNG CHỨNG TỪ MỘT THỊ TRƯỜNG ĐANG PHÁT TRIỂN

Ngày 03 tháng 11 năm 2020, nghiên cứu có tiêu đề Do banks accumulate a higher level of intellectual capital? Evidence from an emerging market (Tạm dịch: Ngân hàng tích lũy được mức độ vốn trí tuệ cao hơn? Bằng chứng từ một thị trường mới nổi) được thực hiện bởi nhóm tác giả Trần Phú Ngọc (Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) và Võ Hồng Đức (Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) được công bố trên tạp chí Journal of Intellectual Capital.

Tạp chí này xếp hạng Q1 Scopus (2019) cho hai lĩnh vực về Giáo dục – Kinh doanh và Quản trị – Tài Chính cùng CiteScore đạt 8.6 và được chỉ mục trong cơ sở dữ liệu SSCI.

Macroeconomics economics editorial illustrator money illustration economy illustration Monica Andino
Tranh: Mónica Andino/Behance | CC BY-NC 4.0

Theo thông tin từ nhóm tác giả, đây là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam, với hai mục tiêu sau: (1) đo lường và so sánh mức độ tích lũy vốn tri thức của các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính tại Việt Nam; và (2) kiểm tra sự đóng góp của vốn trí tuệ cùng các thành phần trong vốn trí tuệ vào kết quả hoạt động của các công ty tài chính và phi tài chính tại Việt Nam.

Nghiên cứu xuất phát từ nhận định so sánh về vốn tri thức của ngân hàng ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Cụ thể, ở các quốc gia phát triển, các ngân hàng được coi là có mức vốn tri thức được tích lũy ở mức độ cao hơn so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được xem xét hoặc kiểm nghiệm trong bối cảnh một thị trường mới nổi như Việt Nam, một trong những nền kinh tế năng động nhất trong khu vực châu Á. Vì vậy, một trong những mục tiêu chính của nghiên cứu là ước tính và so sánh mức độ tích lũy vốn tri thức cùng bốn thành phần của vốn tri thức trong các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính tại Việt Nam. Hơn nữa, mối quan hệ giữa vốn tri thức và các yếu tố thành phần của nó cùng hiệu quả hoạt động của các công ty ấy cũng được xem xét trong nghiên cứu này.

Trong mục Giới thiệu (Introduction) của bài báo, các tác giải đề cập đến thực trạng ngành ngân hàng với khẳng định rằng ngành này đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam bằng cách tạo thuận lợi cho các giao dịch tài chính. Trích dẫn từ số liệu của các nghiên cứu trước đây của Trieu (2019), Buallay và cộng sự (2020) cho thấy giá trị tài sản trong hệ thống ngân hàng gần gấp đôi GDP của nó và có thể coi rằng các ngân hàng là các công ty thâm dụng tri thức. Các tài sản quan trọng nhất của ngân hàng là dưới dạng vốn tri thức. Những hoạt động của ngân hàng liên quan trực tiếp đến vốn tri thức, chẳng hạn như nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu. Nhân viên ngân hàng cũngthể hiện tính đồng nhất cao hơn so với nhân viên trong các ngành khác (Kubo và Saka, 2002).

Hơn nữa, những lập luận trước đây cho rằng ngân hàng đã tích lũy được mức vốn tri thức cao hơn các ngành khác (Firer và Williams, 2003). Những lý thuyết đương thời cho rằng bản sắc nhân viên rất quan trọng vì vốn tri thức là một trong những thước đo chủ yếu để đánh giá năng lực của nhân viên. Ngoài ra, các ngân hàng hoạt động trong môi trường được quản lý chặt chẽ có xu hướng tuân thủ nhiều hơn trong việc đáp ứng các kỳ vọng liên quan tới những quy định được đặt ra, trong khi các công ty phi tài chính thì không, dẫn đến mức độ tích lũy vốn trí tuệ khác nhau. Nghiên cứu của Tran và Vo (2020) cũng được nhắc tới về nội dung thảo luận vai trò khác biệt của hiệu quả sử dụng vốn con người trong lĩnh vực ngân hàng so với các lĩnh vực khác ở Việt Nam. Từ việc tổng hợp những lý thuyết đó, nhóm tác giả nhận thấy sự đóng góp của vốn tri thức vào hoạt động của doanh nghiệp, tập trung vào các ngân hàng phần lớn đã bị bỏ qua trong các tài liệu hiện nay, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi như Việt Nam.

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thu thập được từ các báo cáo thường niên của 75 công ty tài chính và 75 công ty phi tài chính tại Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2018. Mô hình hệ số giá trị gia tăng đã qua sửa đổi được áp dụng để đo lường mức vốn trí tuệ của các doanh nghiệp. Nhiều khía cạnh khác nhau của vốn tri thức được xem xét trong đó bao gồm hiệu quả của vốn nhân lực (efficiency of human capital), vốn cấu trúc (structural capital), vốn sử dụng (capital employed) và vốn quan hệ (relational capital). Ngoài ra, phương pháp hồi quy GMM (Generalized methods of moments) được sử dụng để đảm bảo sự chắc chắn của các phát hiện trong nghiên cứu này.

Kết quả trong nghiên cứu này chỉ ra rằng các công ty tài chính ở Việt Nam đã tích lũy được mức vốn tri thức cao hơn so với các công ty phi tài chính. Thêm vào đó, vốn trí tuệ đóng góp tích cực vào kết quả hoạt động của các công ty tài chính. Ba thành phần của vốn trí tuệ – hiệu quả từ vốn cấu trúc (structural capital efficiency), hiệu quả sử dụng vốn (capital employed efficiency) và hiệu quả sử dụng vốn quan hệ (relational capital efficiency) tại các công ty tài chính có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của những doanh nghiệp này.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đặt phạm vi giới hạn với các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính ở Việt Nam vì vậy các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai nên kết hợp mức độ hiệu quả ở các khía cạnh khác nhau này của vốn trí tuệ trong các loại hình doanh nghiệp này vì các ngành khác nhau có thể có các đặc điểm khác nhau, cụ thể là mức hiệu quả hiện tại và điều đó có thể dẫn đến khác biệt liên quan đến tích lũy vốn tri thức.

Những phát hiện trong nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng giá trị và ý nghĩa cho các nhà điều hành và hoạch định chính sách trong việc xây dựng, quản lý và nâng cao vốn tri thức trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính.

Chi tiết bài báo: Ngoc Phu Tran, Duc Hung Vo. (2020). “Do banks accumulate a higher level of intellectual capital? Evidence from an emerging market”. Journal of Intellectual Capital, Vol. ahead-of-print

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn