fbpx

NGHIÊN CỨU VỀ NỮ GIỚI BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP

Những chủ đề nghiên cứu liên quan tới phụ nữ, chẳng hạn như giáo dục mầm non, có xu hướng ít được đánh giá cao trong giới học thuật hơn là các chủ đề mà thông thường được gắn với nam giới, chẳng hạn như kỹ thuật cơ khí. Sự thiên vị ngầm này có thể cản trở các nữ học giả đạt được thành công trong sự nghiệp học thuật. 

Hình: Shatakshi Mehra/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Trong một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Research Polic, các tác giả viết rằng thành kiến với những nghiên cứu liên quan tới phụ nữ là một ‘’nguyên nhân ngầm ẩn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự bất bình đẳng giới dai dẳng’’.

Lanu Kim, một nhà nghiên cứu khoa học máy tính tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc và là tác giả đầu tiên của nghiên cứu, cho biết: “Nếu mọi người lựa chọn các chủ đề liên quan đến phụ nữ, họ sẽ có ít cơ hội thăng tiến hơn trong sự nghiệp học thuật”. 

Nghiên cứu đặt câu hỏi tại sao các nữ học giả lại gặp bất lợi trong thị trường công việc, mặc dù ngày càng có nhiều ứng viên tiến sĩ là nữ giới.

Các nghiên cứu “nữ tính”

Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng có các rào cản văn hóa có cấu trúc đối với phụ nữ trong giới học thuật, bao gồm mức lương thấp hơn và không được tuyển dụng làm cố vấn không chính thức. Bằng chứng cho thấy những trở ngại này dẫn đến các học giả nữ có ít cơ hội được vào biên chế hơn và giành được ít trợ cấp hơn, họ cũng ít khi là tác giả chính trên các bài báo nghiên cứu. Nhưng ít người biết về tác động của các nghiên cứu có khách thể là phụ nữ đối với tình trạng bất bình đẳng này.

Kim và các đồng nghiệp của cô đã phân tích phần tóm tắt của gần một triệu luận án từ các chương trình Tiến sĩ của Hoa Kỳ từ năm 1980 đến năm 2010, sử dụng một thuật toán đo lường sự tương quan giữa các luận văn với giới tính.

Chẳng hạn, những luận án bao gồm nhiều từ như “kỹ thuật hóa học” hoặc “thuật toán” được coi là nam tính hơn — thuật toán cho thấy rằng những từ này thường được sử dụng nhiều hơn trong các chương trình Tiến sĩ do nam giới viết.

Ngược lại, những luận án bao gồm nhiều từ như “sinh viên” hoặc “phụ huynh”, hoặc sử dụng các kỹ thuật định tính, được coi là nữ tính hơn, vì chúng thường được sử dụng trong các chương trình Tiến sĩ do phụ nữ viết.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi sự nghiệp của các ứng viên để xem liệu sau này họ có trở thành cố vấn học thuật có thời hạn hay tiếp tục nghiên cứu của họ hay không. Họ cũng sử dụng các mô hình thống kê để phân tích cơ hội kiếm được việc làm trong giới học thuật của học viên tiến sĩ dựa trên “giới tính” nghiên cứu của họ.

Họ phát hiện ra rằng tỉ lệ các ứng viên nữ trở thành cố vấn của khoa hơn ít hơn 20% so với các ứng viên nam. Họ cũng phát hiện ra rằng thành kiến ngầm đối với các chủ đề liên quan đến phụ nữ là mạnh nhất trong các lĩnh vực liên quan đến phụ nữ.

Ví dụ: các ứng viên Tiến sĩ viết về các chủ đề ‘nam tính’ hoặc kỹ thuật trong lĩnh vực mà theo truyền thống được coi là nữ tính, chẳng hạn như học máy trong các nghiên cứu nữ quyền, được phát hiện có khả năng kiếm được việc làm cao hơn khoảng hai lần so với các ứng viên viết về chủ đề kỹ thuật, chẳng hạn như phương pháp tiếp cận định tính, được coi là nữ tính trong cùng lĩnh vực.

Kim cho biết: “Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng các chủ đề luận văn liên quan đến phụ nữ được đánh giá thấp hơn so với những chủ đề liên quan đến nam giới.”

Giải quyết vấn đề thành kiến ngầm

Erin Leahey, một nhà xã hội học nghiên cứu về sự bất bình đẳng trong ngành khoa học tại Đại học Arizona cho biết, nghiên cứu này vượt trội hơn các nghiên cứu trước đây ở điểm nó cho thấy được ảnh hưởng của giới tính đến sự nghiệp dài hạn. Cô nói: “Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều xem xét giới tính ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả nghề nghiệp trong ngắn hạn, như năng suất và hay sự công nhận”.

Để giúp điều chỉnh sự mất cân bằng, Kim và các đồng nghiệp của cô ấy khuyến nghị các tổ chức học thuật nên xem xét các thành kiên về giới tính diễn ra như thế nào trong quá trình đánh giá nghiên cứu.

Họ gợi ý rằng các ủy ban tuyển dụng giảng viên phải trải qua khóa đào tạo để nâng cao nhận thức của họ về thành kiến ngầm đối với một số nhóm cá nhân nhất định và thuê các ứng viên có chủ đề nghiên cứu thường được đánh giá thấp theo các quan niệm truyền thống, chẳng hạn như điều dưỡng và xã hội học.

Họ cũng gợi ý rằng các hội nghị, tạp chí nghiên cứu và các chương trình đại học nên bao hàm nhiều nghiên cứu đa dạng hơn. Ví dụ, ban quản trị các trường đại học có thể thúc đẩy những sáng kiến và trung tâm nghiên cứu mới coi trọng nghiên cứu của phụ nữ và nghiên cứu về phái nữ.

“Các học giả có thể ngạc nhiên khi biết về những thành kiến ngầm đối với một số lĩnh vực và chủ đề nhất định, việc nâng cao nhận thức có thể giúp giảm thiểu nguyên nhân của việc bất bình đẳng giới này” Leahey nói. Cô đồng ý rằng sẽ rất hữu ích cho Ban điều hành các trường đại học, những người có quyền kiểm soát cao nhất đối với các học viện và khoa được liệt kê trong các quảng cáo tuyển dụng, đầu tư vào phạm vi nghiên cứu rộng hơn.

Kim lập luận rằng việc ít có nữ học giả ở các vị trí cấp cao và biên chế  không chỉ là một bất công xã hội – điều đó còn có hại cho chất lượng nghiên cứu và gây ảnh hưởng tới nền kinh tế. Cô nói thêm: Việc tồn tại các rào cản đối với sự thành công của phụ nữ đồng nghĩa với việc một số chủ đề nhất định có sự liên kết chặt chẽ hơn với các học giả nữ, chẳng hạn như công lý và bình đẳng, bị bỏ qua’’.

Mỹ Linh dịch

Nguồn

Natasha Gilbert. (2022, Jan 27). Research associated with women deemed less worthy, study finds. NatureIndex. 

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn