fbpx

NHẬN THỨC CỦA HỌC GIẢ VIỆT NAM VỀ THẾ NÀO LÀ MỘT NGHIÊN CỨU “TỐT”

Lĩnh vực khoa học xã hội thế giới hiện nay đang chứng kiến quá trình hội nhập nhanh chóng của các nền khoa học đến từ các nước đang phát triển. Tuy nhiên, những nền khoa học này đang đứng trước thách thức về vai trò và ảnh hưởng của sản phẩm nghiên cứu trong học thuật và thực tế. Nguyên nhân đến từ tính định hướng của những nền khoa học phát triển đến xu hướng nghiên cứu của khoa học thế giới và quá trình hợp tác, chuyển giao phương pháp nghiên cứu thông qua các dự án hợp tác quốc tế.

Quá trình chuyển giao này có thể gây ảnh hưởng đến tính truyền thống và đa dạng văn hóa trong nghiên cứu tại các nước đang phát triển. Những nhà khoa học đến từ những nền khoa học đang phát triển cũng chịu tác động của xu thế này trong quá trình “định vị” bản thân trong nghiên cứu. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Hữu Cường đến từ Đại học Duy Tân công bố trên tạp chí “Compare: A Journal of Comparative and International Education” (IF 1.607) thuộc nhà xuất bản Taylor & Francis đã mô tả ảnh hưởng của những yếu tố này đến các nhà khoa học xã hội Việt Nam. 

Tác giả đã thực hiện nghiên cứu bằng việc sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với tham chiếu với các văn bản thể chế và chính sách có liên quan. Quy trình nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước. Trong bước một, một bảng hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin về nền tảng giáo dục và kinh nghiệm nghiên cứu của những người tham gia trả lời bảng hỏi thông qua hình thức trả lời trực tuyến. Thông qua kết quả của bước một, tác giả đã thực hiện lựa chọn mười hai nhà khoa học là đối tượng tham gia phỏng vấn sâu. Những đối tượng tham gia vào bước hai là những nhà khoa học đến từ các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, có tuổi nghề, đơn vị công tác, vị trí địa lý và năng suất nghiên cứu đa dạng.

Mục tiêu mà tác giả hướng đến trong quá trình phỏng vấn bán cấu trúc là nhận dạng sự khác biệt trong ba lớp bản sắc (identity layers) chính bao gồm: phương tiện trung gian (thông qua chính sách nghiên cứu, ngôn ngữ nghiên cứu, quá trình nghiên cứu chuyên nghiệp); sự phát triển cá nhân (thông qua nền tảng, lịch sử cuộc đời và kinh nghiệm nghiên cứu); cuối cùng là các mối quan hệ xã hội của nhà khoa học (thông qua môi trường thể chế làm việc, cộng đồng nghiên cứu, ảnh hưởng chính trị và sự tiếp xúc hoặc gắn bó với giới học thuật toàn cầu) đến nhận thức của họ về “vị thế” của nhà khoa học tại Việt Nam và cộng đồng hải ngoại. Quá trình phỏng vấn được thực hiện theo phương thức thảo luận theo thứ tự thời gian (từ quá khứ đến hiện tại) và không gian (từ kinh nghiệm thực hiện nghiên cứu tại Việt Nam và các nước khác). Kết quả phỏng vấn được phân tích bằng hai chiến lược quy nạp và diễn dịch và theo phương pháp phân tích bắt đầu từ nội suy các trường hợp sang phương pháp tiếp cận trường hợp chéo. Có tám nhà khoa học được nhận thấy rằng họ có vị thế mạnh mẽ đối với sự hiểu biết về nghiên cứu, điều này đã định hình đáng kể danh tính các nhà nghiên cứu.

Mô hình tác giả sử dụng trong bài báo

Kết quả phân tích cho thấy những góc nhìn khác nhau về nghiên cứu giữa các thế hệ nhà khoa học xã hội Việt Nam. Quan điểm của họ về nghiên cứu, bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi kinh nghiệm của họ trong tiến hành nghiên cứu cũng như các quan hệ xã hội và thực tiễn mà họ đã tham gia. Tùy thuộc vào từng cá nhân mà ba lớp bản sắc nói trên có thể ảnh hưởng đến nhận thức của họ về nghiên cứu nhiều hay ít. Nhìn chung, có hai trường hợp: nhà khoa học có thể tự coi mình là người tạo ra kiến thức mới dựa trên mong muốn đóng góp thông qua nghiên cứu của bản thân hoặc tự coi mình là người tạo ra các nghiên cứu có chất lượng cao phù hợp với các tiêu chuẩn nghiên cứu phương Tây. 

Cụ thể hơn, những nhà khoa học hàng đầu trong nước cho rằng nhiệm vụ của nghiên cứu là tạo ra kiến thức mới phù hợp với nhu cầu của đất nước. Những hiểu biết về nghiên cứu của họ phản ánh lịch sử phức tạp của khoa học xã hội ở Việt Nam và quan trọng hơn, các học giả trong nước thường phải xem xét thực tế địa phương để tìm ra các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Kết quả cũng cho thấy những vấn đề mang tính địa phương có thể được các nhà khoa học này ưu tiên lựa chọn giải quyết bằng các phương pháp tiếp cận địa phương. Đáng buồn thay, xu thế/trào lưu quốc tế về sử dụng các phương pháp định lượng, dữ liệu quy mô lớn và các thang đo trong nghiên cứu xã hội (được thiết kế chủ yếu để đáp ứng kỳ vọng của các nhà hoạch định chính sách và các nhà tài trợ) làm lu mờ và lề hóa những phương pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng để khám phá kiến thức khoa học xã hội tại địa phương. Tác giả cũng nhấn mạnh thêm vai trò của những nghiên cứu được đăng trên các tạp chí trong nước và phục vụ nhu cầu trong nước bên cạnh những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế phù hợp với xu thế nghiên cứu của thế giới.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những nhà khoa học thuộc thế hệ trẻ, dù có ý thức hoặc vô thức, đều tuyên bố rằng việc tiến hành nghiên cứu trong bối cảnh địa phương bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các tiêu chuẩn và thực tiễn toàn cầu. Các nhà khoa học được đào tạo tại phương Tây đã mang lại tiêu chuẩn trong nghiên cứu khoa học được quy định bởi các trung tâm khoa học này trong việc thực hiện một nghiên cứu chất lượng. Quy trình nghiên cứu theo tiêu chuẩn nghiên cứu chất lượng của phương Tây dường như có xung đột với thực tiễn địa phương và những nhà khoa học được đào tạo tại đây không được khuyến khích để thực hiện những nghiên cứu theo tiêu chuẩn này trong quá trình làm việc. Xung đột này đã trở thành một động lực đáng kể để những nhà khoa học này quay trở lại với các trung tâm học thuật phương Tây sau quá trình làm việc trong nước.  

Cuối cùng, tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách để phát triển nghiên cứu khoa học xã hội cho các bên liên quan. Đầu tiên, những nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các trường đại học nên có một cơ chế tốt hơn để đánh giá và khen thưởng các nghiên cứu có chất lượng. Chẳng hạn, các tạp chí xếp hạng cao bằng ngôn ngữ địa phương và khu vực nên được nhìn nhận bình đẳng với các tạp chí xuất bản bằng tiếng Anh; phần thưởng cho các ấn phẩm quan trọng cho địa phương nên hấp dẫn hơn đối với các nhà nghiên cứu mong muốn đóng góp cho cộng đồng của họ.

Thứ hai, những nhà hoạch định chính sách cần sử dụng các phát hiện từ dữ liệu lớn một cách cẩn thận trong việc định hướng các chính sách nghiên cứu. Thêm vào đó, lãnh đạo các trường đại học và viện nghiên cứu cần tìm cách khuyến khích hợp tác giữa những nhà nghiên cứu trẻ với những nhà nghiên cứu dẫn đầu trong nước và giới thiệu phương pháp nghiên cứu địa phương với toàn cầu. Thêm vào đó, để phát triển bản sắc của những nhà khoa học xã hội Việt Nam, nên có một mô hình nghiên cứu thực hành tại các cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội và tạo ra một cộng đồng ủng hộ nghiên cứu tại Việt Nam. Cuối cùng, bản thân những nhà nghiên cứu khoa học xã hội nên ưu tiên nghiên cứu quan trọng đối với cộng đồng liên quan đến thế mạnh của họ, tiếng nói của họ và danh tính của nhà nghiên cứu.

Chi tiết nghiên cứu: Cuong Huu Hoang (2021). Global production of knowledge: exploring Vietnamese scholars’ perception of ‘good’ research, Compare: A Journal of Comparative and International Education, DOI: 10.1080/03057925.2021.1884046

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn