fbpx

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ VẬN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẠI HỌC VIỆT NAM

Trong bối cảnh xu hướng du học ngoài biên giới đang trở nên bão hòa, các quốc gia là điểm đến du học yêu thích hiện đang chuyển sự chú ý sang việc cung cấp các chương trình học cho sinh viên quốc tế tại chính nước sở tại. Bên cạnh đó, các quốc gia thường xuất khẩu sinh viên, chủ yếu là các quốc gia đang phát triển, đã và đang nhận ra tầm quan trọng của việc hợp tác giáo dục quốc tế để thu hút sinh viên trong nước đến với các cơ sở giáo dục trong nước. Qua đó các cơ sở trong nước có thể tự đào tạo nhân lực, giải quyết tình trạng thiếu kỹ năng tránh chảy máu chất xám và hạn chế nguồn tiền đầu tư cho giáo dục đổ ra nước ngoài. Các đại học trong nước cũng có thể trao đổi, học tập từ chuyên môn nhiều mặt của đối tác nước ngoài. Do đó, phương thức hợp tác quốc tế trong giáo dục đặc biệt là hình thức liên kết đào tạo đã dần trở thành một thông lệ của các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, Bộ Giáo dục Đào tạo cũng xác định liên kết đào tạo và hợp tác quốc tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam.

Liên kết đào tạo ở bậc đại học của Việt Nam sơ khởi vào khoảng những năm cuối của thập niên 90. Thế nhưng mãi đến năm 2005 thì kiểm định chất lượng mới được đưa vào luật Giáo dục sửa đổi và tới tận năm 2012 mới có quy định cụ thể về liên kết đào tạo. Tại Việt Nam, năng lực hạn chế của các trường đại học trong nước chưa thể đáp ứng được nhu cầu giáo dục ngày càng gia tăng của người dân đang trở nên giàu có hơn, do đó các chương trình hợp tác đào tạo ngày càng được đẩy mạnh trong nước. Đối với sinh viên và phụ huynh, sự hấp dẫn của các chương trình này nằm ở chi phí hợp lý so với du học, khoảng cách địa lý gần nhà, và đặc biệt là uy tín của các chứng chỉ quốc tế cũng như các kĩ năng liên văn hóa. Vài năm trước, các chương trình liên kết có xu hướng chững lại, nhiều chương trình phải chấm dứt hoạt động vì không tuyển sinh được. Tuy nhiên, bối cảnh hậu đại dịch COVID có thể mở ra cơ hội mới cho các chương trình liên kết ở Việt Nam.

Cho đến năm 2018, Việt Nam có 525 chương trình liên kết đào tạo đã được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cấp phép. 48.8% trong đó là chương trình cử nhân và và 42.7% là thạc sĩ, với các nước hợp tác phổ biến là Pháp, Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc và Đài Loan. Tính đến năm 2016, đã có gần 80000 sinh viên theo học các chương trình này. Ngành phổ biến nhất là quản trị kinh doanh, chiếm đến hai phần ba tổng lượng sinh viên. 

Việc vận hành các chương trình liên kết đòi hỏi sự hợp tác học thuật chặt chẽ giữa các đối tác để phát triển nội dung khóa học, quản lý chất lượng giảng dạy và trao bằng. Quá trình này cũng đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các phương thức hợp tác, kỳ vọng và yêu cầu của mỗi bên, cũng như những khác biệt về văn hóa, thể chế và luật pháp. 

Nhằm có được một bức tranh thực tiễn về quản lý chất lượng và vận hành các chương trình liên kết trong các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, ba tác giả Nguyễn Hữu Cương, Nhan Thị ThủyTạ Thị Thu Hiền đã tiến hành phỏng vấn 45 điều phối viên, giảng viên và sinh viên từ 5 trường đại học có chương trình liên kết quốc tế. Kết quả của các phỏng vấn trên được công bố trên tạp chí Asia Pacific Education Review, tạp chí được chỉ mục trong SSCI và Scopus Q2.

Từ các trải nghiệm của những người trong cuộc, 6 khía cạnh chính được tác giả bàn tới trong bài là: lựa chọn đối tác, yêu cầu tuyển sinh đầu vào, chương trình giảng dạy, cơ sở vật chất và tài nguyên giáo dục, đội ngũ giảng viên và đảm bảo chất lượng.

(a) Lựa chọn đối tác

Theo một số nghiên cứu trước đây, các đại học Việt Nam gặp khó khăn trong việc lựa chọn đối tác nước ngoài do phía đối tác đòi hỏi chi phí cao cùng nhiều yêu cầu rườm rà khác. Phía Việt Nam do ở vị thế thấp hơn, thường dễ dàng chấp nhận hợp tác với bất kỳ đối tác nào, dẫn tới một số sai phạm đáng tiếc như đối tác ma hay bằng cấp không được công nhận. 

Tuy nhiên, điều này đang dần thay đổi. Tất cả 5 cơ sở Đại học tham gia vào nghiên cứu này đều lựa chọn các đối tác chủ yếu đến từ các trường đại học, cao đẳng, viện có uy tín trên thế giới. Các đối tác chủ yếu đến từ các quốc gia nói tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc, New Zealand, Canada, Ireland, Đan Mạch hoặc một số quốc gia châu Á như Singapore, Đài Loan và Malaysia.  Họ kỳ vọng rằng chương trình liên kết sẽ tạo cơ hội để các đơn vị đào tạo trong nước tiếp cận được các tiêu chuẩn dạy và học khu vực và quốc tế, cùng các cơ hội hợp tác nghiên cứu. Mặc dù chưa thể khái quát kết quả này cho toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam, nhưng có vẻ như các cơ sở trong nước có uy tín thì có vị thế tốt hơn trong việc hình thành và duy trì sự hợp tác với các đối tác uy tín nước ngoài.

(b) Chất lượng tuyển sinh thấp

Yêu cầu đầu vào của các chương liên kết nhìn chung thấp hơn hẳn so với yêu cầu bình thường của một cơ sở giáo dục nước ngoài. Ví dụ: chương trình cử nhân ở một quốc gia nói tiếng Anh thường yêu cầu học sinh có trình độ tiếng Anh tối thiểu tương đương với điểm số 6.0 hoặc 6.5 trong Hệ thống Kiểm tra Anh ngữ Quốc tế (IELTS). Tuy nhiên các chương trình liên kết ở Việt Nam có yêu cầu lỏng lẻo hơn, sinh viên chỉ cần có điểm IELTS 5.5 trở lên. 

Một nửa số sinh viên được phỏng vấn chia sẻ rằng các em đăng ký các chương trình liên kết sau khi trượt kỳ thi tuyển sinh đại học. Như vậy, điểm đầu vào các chương trình liên kết thấp hơn so với sinh viên một khóa đào tạo thông thường. Cộng với trình độ tiếng Anh không quá cao, các sinh viên rất vất vả trong quá trình theo học và thường không có động lực học tập cao. Do đó, giảng viên các chương trình này phải liên tục hỗ trợ, thậm chí là giảng lại bằng tiếng Việt để sinh viên dễ nắm bắt. 

(c) Chương trình giảng dạy

Các khóa đào tạo liên kết thường được coi trọng vì nhấn mạnh vào các kỹ năng mềm, các chủ đề học thực tế và viễn cảnh tuyển dụng sau tốt nghiệp. Tất cả các sinh viên được phỏng vấn đều đồng ý với điều này khi chia sẻ trải nghiệm học tập dựa trên dự án, thuyết trình, làm việc nhóm, viết luận hoặc các dự án nghiên cứu nhỏ. Những kỹ năng và cơ hội học tập này không phổ biến trong các chương trình phổ thông và các chương trình đại học truyền thống do sĩ số lớp học lớn và chương trình học nặng về lý thuyết. Việc đánh giá kết quả học tập ở các chương trình đào tạo liên kết có thể được coi là nghiêm ngặt, vì thường được chấm bởi giảng viên nước ngoài. 

Tuy nhiên, một bất cập thường được nhắc đến là đa số nội dung đào tạo được nhập khẩu từ các đối tác nước ngoài dưới dạng trọn gói. Sinh viên được học trực tiếp nội dung gốc do các tác giả nước ngoài biên soạn, đem đến những e ngại về độ phù hợp của nội dung khóa học với bối cảnh Việt Nam. Ví dụ, theo như các sinh viên được phỏng vấn, các môn thị trường quốc tế chủ yếu đòi hỏi sinh viên phải phân tích các bài tập tình huống (case study) gắn với thị trường Mỹ, hay môn Luật vốn khó lại phải áp dụng luật Malaysia trong bối cảnh Hồi giáo. 

(d) Cơ sở vật chất và tài nguyên giáo dục 

Chi phí cho chương trình giảng dạy liên kết cấp bằng bằng tiếng Anh cao hơn đáng kể so với chương trình thường tương đương bằng tiếng Việt. Tuy vậy, đối với nhóm sinh viên được phỏng vấn trong nghiên cứu, cơ sở vật chất và nguồn lực họ được tiếp cận là không được như kỳ vọng xét trên chi phí họ phải bỏ ra.

Việc được tiếp cận các nguồn tài nguyên giáo dục có vai trò quan trọng trong hành trình trở thành những người học độc lập, có tư duy phản biện của sinh viên. Tuy nhiên, các sinh viên cho rằng cơ sở vật chất (đặc biệt là thư viện) khác xa mong đợi, đặc biệt là nếu đặt lên bàn cân với chương trình gốc ở nước ngoài. Về tư liệu giảng dạy, các giảng viên cho biết họ phải phụ thuộc vào tài liệu nước ngoài với rất ít hướng dẫn đi kèm, nên thường phải tự thân vận động bằng cách tìm kiếm thêm trên mạng. 

(e) Đội ngũ giảng viên

Theo nghiên cứu này, thách thức chính đối với các chương trình liên kết đào tạo là vấn đề lịch trình làm việc của đội ngũ giảng viên nước ngoài. Mặc dù giảng viên nước ngoài được sinh viên đánh giá cao do có phong cách thân thiện và chuyên môn vững chắc, họ chỉ có thể ở lại Việt Nam vài tuần để giảng dạy trực tiếp. Sinh viên thường phải học theo hình thức “cuốn chiếu”: học cao độ để hoàn thành lượng kiến thức trong vài tuần thay vì dàn trải trong vài tháng rồi chuyển ngay sang môn học khác. Một vấn đề phát sinh nữa đó là do phụ thuộc vào lịch trình của các giảng viên nước ngoài, lịch học thường được thông báo gấp, khiến sinh viên không chủ động thời gian để tham gia các hoạt động ngoại khóa hoặc thực tập khác.

Bù lại, các giảng viên Việt Nam là một nguồn hỗ trợ đáng kể cho sinh viên. Sinh viên Việt Nam có thể xin ý kiến tư vấn từ giảng viên Việt Nam bất cứ khi nào có câu hỏi liên quan đến định hướng nghề nghiệp hay nội dung học kể cả ngoài giờ học. Các giảng viên Việt Nam cũng tích cực khuyến khích sinh viên tham gia các dự nghiên cứu nhỏ hoặc các dự án khởi nghiệp. Các giảng viên tham gia vào các chương trình liên kết hầu hết đều là các trưởng phó khoa hoặc trưởng bộ môn, và được đào tạo ở nước ngoài với chuyên môn và trình độ ngoại ngữ vững. Bản thân các giảng viên cũng chia sẻ rằng họ phải trải qua nhiều khóa đào tạo và tập huấn định kỳ của các cả đối tác và chính trường đại học trong nước. 

(f) Đảm bảo chất lượng đào tạo và cấp bằng 

Để đảm bảo chất lượng đào tạo, trước tiên chương trình đào tạo gốc phải được công nhận ở nước cung cấp; sau đó, phải được vượt qua quá trình kiểm định ở Việt Nam hoặc hoặc cơ quan kiểm định quốc tế. Ngoài ra, các trường đại học trong nước cũng nên phát triển một cơ chế đảm bảo chất lượng nội bộ với sự tham gia của các bên liên quan. Trong quá khứ, có rất nhiều lùm xùm liên quan đến các chương trình đào tạo chưa được kiểm định dẫn đến bằng cấp không được công nhận, gây nhiều thiệt thòi cho học viên.

Nghiên cứu này cho thấy rằng trong khi đại diện các trường đại học được khảo sát khẳng định đối tác nước ngoài của họ là các nhà cung cấp giáo dục có uy tín, thì thực tế nhiều chương trình liên kết đào tạo của các trường này lại không được Bộ GD & ĐT công nhận. Chỉ 1 trong 5 trường có tất cả các chương trình hiện tại đã được các cơ quan đảm bảo chất lượng và Bộ GD & ĐT công nhận. Ba cơ quan kiểm định độc lập được lựa chọn nhiều nhất là Trung Tâm Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung Tâm Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục – Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, và Hệ thống đảm bảo chất lượng các trường đại học Đông Nam Á. 

Kiểm định chất lượng nội bộ được đánh giá là hiệu quả hơn. Cả giảng viên, sinh viên và điều phối viên các chương trình liên kết đều xác nhận rằng việc đánh giá giảng dạy được tiến hành thường xuyên. Phản hồi của sinh viên cũng được lắng nghe và tiếp nhận giải quyết, còn giảng viên cảm thấy có động lực để liên tục cập nhật chương trình và năng lực giảng dạy. 

Kết

Bằng việc liên kết với các đối tác tốt ở nước ngoài để cung cấp chương trình đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam kỳ vọng sẽ quảng bá hình ảnh, nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu của mình. Sinh viên Việt Nam theo học các chương trình liên kết chủ yếu để có được bằng cấp được quốc tế công nhận với chi phí thấp hơn du học nước ngoài và nâng cao cơ hội có việc làm tốt trên thị trường lao động trong nước. 

Ít nhất là đối với 5 trường đại học trong nghiên cứu, quan hệ hợp tác xuyên quốc gia dường như đã đi từ một nguồn tăng doanh thu đơn thuần thành một bàn đạp để nâng cao năng lực và danh tiếng. Các cơ sở giáo dục của Việt Nam đã có xu hướng chọn lựa đối tác cẩn thận hơn và tiến vào mối quan hệ bình đẳng hơn với các nhà cung cấp nước ngoài.

Các chương trình liên kết mới chỉ đáp ứng một phần kỳ vọng của sinh viên về phát triển các kỹ năng và nâng cao khả năng tuyển dụng sau tốt nghiệp. Vấn đề duy trì chất lượng và tiêu chuẩn để ngang tầm với tiêu chuẩn ở chương trình gốc tại nước ngoài vẫn còn là một thách thức, và sinh viên vẫn tiếp tục phải vật lộn với học tập do đầu vào thấp. Các tiêu chí tuyển sinh cần phải khắt khe hơn để kiểm soát tổng thể chất lượng và tính bền vững của chương trình. 

Mặc dù các chương trình gốc đều được công nhận, nhưng các chương trình liên kết khi về Việt Nam lại chưa thực hiện tốt vấn đề này. Bù lại, các hoạt động đảm bảo chất lượng nội bộ, bao gồm việc sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy hoặc khảo sát các dịch vụ hỗ trợ sinh viên, đã được nghiêm túc thực hiện. 

Rõ ràng, nếu các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Chính phủ khi mở và vận hành các chương trình liên kết, đặc biệt là các quy trình đảm bảo chất lượng, thì các chương trình này sẽ mang lại những tác động tích cực cho sinh viên, giảng viên và cả cơ sở đào tạo. Điều quan trọng nữa là cần phải làm nổi bật bối cảnh Việt Nam trong việc dạy và học nếu hai bên cùng nhau xây dựng chương trình học thay vì áp dụng trọn gói giáo trình quốc tế mà không có sự điều chỉnh phù hợp.

Sau khi rà soát hàng loạt các chương trình liên kết hiện nay, nhà nước cũng đã có các cơ chế và khung chính sách thuận lợi ví dụ Nghị định 86/2018/NĐ-CP về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp cũng cơ hội để các trường Đại học trong nước phản ứng nhanh, thúc đẩy xây dựng các chương trình quốc tế và liên kết với các hình thức linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của một bộ phận sinh viên không thể ra nước ngoài học. 

Chi tiết nghiên cứu: Nguyen, Cuong Huu, Thuy Thi Nhan, and Hien Thu Thi Ta. “Joint-training programs in Vietnam: operation and quality management aspects gathered from institutional practices.Asia Pacific Education Review (2021): 1-15. 

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn