fbpx

QUYỀN LỰC VÀ CÔNG BỐ KHOA HỌC Ở TRUNG QUỐC

Vai trò của quyền lực thường không được chú ý trong các thảo luận về truyền thông khoa học hoặc sản xuất tri thức, thay vào đó tập trung vào các “tiêu chuẩn khoa học” được lý tưởng hóa. Trong bài viết này, Ruixue Jia sẽ thảo luận về cách thức mà quyền lực hành chính định hình việc nghiên cứu và xuất bản bản học thuật ở Trung Quốc, và những hàm ý rộng hơn về việc phân tích quyền lực có thể đem lại đối với hoạt động xuất bản học thuật.

Sự phân bố quyền lực ảnh hưởng đến cách thức vận hành và kết quả của nền kinh tế, thông qua việc phân phối nguồn lực và sản xuất hàng hóa. Vấn đề này đã được biết đền và nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế chính trị, nhưng lại chưa được chú ý trong giới hàn lâm, mà cụ thể là trong việc xuất bản học thuật. Lý do được cho là nằm ở niềm tin của các nhà nghiên cứu vào tầm quan trọng của thành tích học thuật trong quyết định phân bổ nguồn lực trong nghiên cứu. Với dữ liệu từ giới học thuật Trung Quốc, các tác giả cho thấy rằng việc xuất bản khoa học trong giới hàn lâm cũng bị ảnh hưởng bởi quyền lực hành chính, tương tự như với nền kinh tế.

Minh họa: Dale Edwin Murray/Behance | CC BY-NC 4.0

Cụ thể, các nhà tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa việc thăng cấp lên vị trí lãnh đạo (trường hoặc khoa) – đại diện cho quyền lực hành chính – và việc công bố ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy rằng số lượng công bố của một cá nhân tăng sau khi trở thành lãnh đạo, mặc cho việc phải xử lý thêm các công việc hành chính. Dựa trên việc phân tích bộ dữ liệu, các tác giả cho rằng nguyên nhân nằm ở quyết định phân bổ nguồn lực. Theo đó, việc đồng tác giả với hiệu trưởng sẽ đem lại lợi ích trong quá trình nghiên cứu, kể cả khi họ không phải chuyên gia trong chủ đề nghiên cứu.

Vấn đề này thực chất đã được nhắc đến nhiều trong giới học thuật Trung Quốc. Về mặt số lượng, Trung Quốc hiện đứng thứ hai thế giới về xuất bản học thuật, chỉ sau Mỹ. Tuy nhiên, chất lượng của các bài nghiên cứu vẫn chưa tương xứng, mà nguyên nhân một phần nằm ở bộ máy hành chính quan liêu và coi trọng quan hệ hơn là trình độ của nhà nghiên cứu. Thực tế, những vấn đề này cũng xảy ra ở các quốc gia khác, nhưng chúng trở nên đặc biệt nổi bật trong bối cảnh của nghiên cứu này.

Giờ hãy xem xét kỹ hơn về bộ dữ liệu, các kết luận và ý nghĩa của nghiên cứu này.

Dữ liệu

Dữ liệu sử dụng kéo dài từ 1990 đến 2009, bao gồm thông tin về các công bố và tiểu sử của những người đứng đầu các trường đại học, phòng ban và viện nghiên cứu lớn trong lĩnh vực kinh tế. Các công bố được xem xét nằm ở các tạp chí của Trung Quốc, do các tạp chí này có thời gian xét duyệt bài dưới một năm, do đó thuận tiện hơn trong việc xem xét sự thay đổi tương ứng sau khi được thăng chức. Theo đó, các tác giả xem xét sự thay đổi trong việc xuất bản của các nhà khoa học trước và sau khi trở thành chủ nhiệm.

Quyền lực càng lớn, xuất bản càng nhiều

Dữ liệu cho thấy quyền lãnh đạo giúp tăng số lượng bài báo của một cá nhân thêm 0.7 bài mỗi năm, tương đương với 37% số bài trung bình của một người trong một năm. Kết quả cũng chỉ ra rằng số lượng bài báo tăng sau khi nhậm chức, trong khi gần như không có sự thay đổi hàng năm được ghi nhận trước thời điểm này. Điều này gợi ý rằng sự gia tăng số bài báo có vẻ liên quan đến sự thăng tiến trong quyền lực hơn là sự tiến bộ về năng lực.

Một dạng đồng tác giả đặc biệt

Sự gia tăng đến từ việc đồng tác giả với các nhà nghiên cứu thuộc cùng cơ sở (trường đại học, phòng ban, viện nghiên cứu). Trước hết, các tác giả đã phân loại các bài báo mà nhóm lãnh đạo được xem xét là tác giả duy nhất và đồng tác giả, và phát hiện ra sự gia tăng đến từ các bài đồng tác giả. Tiếp tục xem xét sự hợp tác trong các bài báo, phân biệt giữa việc hợp tác trong cơ sở và ngoài cơ sở, các tác giả phát hiện ra rằng sự gia tăng đến từ các nghiên cứu đến từ hợp tác trong cơ sở. Điều này phù hợp với việc ảnh hưởng của quyền lực bị giới hạn trong cơ sở.

Quyền lực thay đổi chủ đề

Các bài báo được công bố sau khi nhận chức thường có chủ đề khác rất nhiều so với lĩnh vực nghiên cứu trước đó. Kết luận này đến từ việc so sánh các nghiên cứu trong hơn 5 năm trở lại trước khi nhận chức và các bài đăng sau đó. Các chủ nhiệm ngày càng góp tên trong các bài báo với chủ đề xa lạ với chính họ. Có thể nói, vị trí chủ nhiệm không chỉ ảnh hưởng đến số lượng bài báo, mà cả chủ đề của chúng nữa.

Hiệu ứng không cố định

Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của quyền lực cũng thay đổi theo trường đại học, tạp chí và cả cá nhân. Trước hết, quyền lực có ít ảnh hưởng ở các trường tinh hoa (39 trường đại học được lựa chọn trong Đề án 985). Thứ hai, sức ảnh hưởng của quyền lực cũng ít được tìm thấy hơn trong top 4 các tạp chí của Trung Quốc. Sau cùng, nó cũng yếu hơn ở các cá nhân có thành tích nghiên cứu tốt từ trước khi nhận chức, cho thấy những người với năng suất nghiên cứu thấp hưởng lợi nhiều hơn từ việc gia tăng quyền lực cá nhân.

Hàm ý

Theo tác giả, có ít nhất 2 ý nghĩa mà nghiên cứu này đem lại: cho thấy mối quan hệ giữa quyền lực hành chính và sự gia tăng số lượng công bố, và những giới hạn của quyền lực hành chính cũng như là cách thức hạn chế sức ảnh hưởng của nó.

Thứ nhất, những xu hướng trên gợi ý rằng quyền lực đã bóp méo quá trình sản xuất tri thức. Lý giải cho mối quan hệ giữa quyền lực và công bố, nhóm tác giả đưa ra 3 giả thuyết. Đầu tiên là “hiệu ứng năng lực”: có thể chính tiềm năng công bố của nhà nghiên cứu giúp họ có được vị trí lãnh đạo cũng như giải thích cho sự gia tăng số lượng công bố. Tuy nhiên giả thuyết này lại không phù hợp với dữ liệu về sự gia tăng số lượng công bố trước và sau khi nhận chức. Giả thuyết thứ hai là “hiệu ứng danh tiếng”, đó là việc danh tiếng từ vị trí chủ nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà nghiên cứu trong việc hợp tác và công bố. Nhưng lý do này cũng lại không phù hợp với dữ liệu về số bài báo hợp tác trong và ngoài cơ sở. Cách giải thích cuối cùng, phù hợp nhất với kết quả từ dữ liệu, đó là các chủ nhiệm sử dụng quyền lực hành chính để ảnh hưởng đến việc phân bổ các nguồn lực, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các nhà nghiên cứu. Các tác giả gọi đây là “hiệu ứng nguồn lực”, và nó khiến cho nhà nghiên cứu phải tập trung thời gian cho việc xây dựng mối quan hệ với chủ nhiệm thay vì nâng cao năng lực.

Thứ hai, quyền lực dù có ảnh hưởng lớn, nhưng vẫn phụ thuộc vào cơ sở. Bằng chứng nằm ở việc các đại học tinh hoa ít chịu ảnh hưởng hơn các trường ở nhóm dưới. Có một số cách để giải thích cho việc này. Đầu tiên nằm ở việc môi trường cạnh tranh ở các đại học tinh hoa giúp hạn chế việc lạm dụng quyền lực. Một lý do khác đó là nhà nghiên cứu của các trường dưới cũng có ít lựa chọn phát triển nghề nghiệp ngoài cơ sở hơn, do đó bị phụ thuộc nhiều hơn vào cấp quản lý. Kết quả này đưa ra gợi ý rằng hiệu ứng quyền lực trên có thể giảm bớt nếu như Trung Quốc có thể tiến hành các cuộc cải tổ hạn chế bớt quyền lực của người đứng đầu và cho các nhà nghiên cứu nhiều quyền tự chủ hơn.

Liên hệ với các lĩnh vực và quốc gia khác

Dù nghiên cứu giới hạn trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc, hiện tượng này cũng tồn tại ở nhiều lĩnh vực khác tại nhiều quốc gia khác. Nghiên cứu ở các trường đại học ở châu Âu và Hoa Kỳ cũng chỉ ra rằng tự chủ học thuật và sự cạnh tranh là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu. Theo đó, các tác giả mong muốn sẽ có nhiều nghiên cứu hơn về cách thức mà quyền lực hành chính ảnh hưởng đến việc sản xuất tri thức, không giới hạn về quốc gia và lĩnh vực. Riêng với các tác giả, chủ đề nghiên cứu trong tương lai tập trung vào vai trò của quyền lực hành chính với các mục tiêu dài hạn, như đổi mới sáng tạo trong môi trường học thuật hàn lâm.

Minh Vũ lược dịch

Nguồn:

Ruixue Jia. (March 10, 2021). Power and publication in Chinese academia. LSE

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn