fbpx

QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA GIÁO VIÊN ANH NGỮ TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM TRONG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY SAU CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ

Vài chục năm trở lại đây, trong lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ, một trong những xu hướng đáng chú ý nhất là việc nhiều nước không sử dụng tiếng Anh bản xứ bắt đầu đưa tiếng Anh vào chương trình học bắt buộc. Nghiên cứu cho thấy khả năng tự quyết của giáo viên có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, nhưng thực tế là quá trình quy hoạch đổi mới thường được chỉ đạo đơn phương từ trên xuống và mang tính chất cưỡng chế. Vì vậy, mặc dù giáo viên hiếm khi được tham gia quá trình hoạch định chính sách hoặc thậm chí là được thông báo trước về những thay đổi sắp tới, họ vẫn phải đạt được những mục tiêu chính sách hoặc thoả mãn nhu cầu của xã hội, kể cả khi họ không được tập huấn đáng kể hay thiếu đi những nguồn lực hỗ trợ cần thiết. Trong tình huống éo le như vậy, giáo viên tiếng Anh vẫn có thể thực hiện quyền tự quyết của mình khi áp dụng chính sách mới vào lớp học của mình.

Ảnh: Một tiết học tại một trường tiểu học ở Việt Nam | Hà Nội mới

Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã ban hành Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2008-2020, trong đó chính thức đưa tiếng Anh vào chương trình giảng dạy là một môn bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12. Cụ thể ở cấp tiểu học, Bộ Giáo dục đã thí điểm chương trình Anh ngữ tiểu học với khối lượng 140 tiết/năm cho các khối lớp 3, 4, 5. Nói chung, Đề án Ngoại ngữ Quốc gia ra đời được xem là động lực chính thúc đẩy đổi mới đào tạo ngoại ngữ tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện Đề án vẫn đi theo lối chỉ đạo từ trên xuống, từ Bộ Giáo dục ban xuống các Sở và các Phòng Giáo dục cho đến khi được áp dụng trong các lớp học mà không có góp ý từ giáo viên. Hơn nữa, văn hóa trọng tôn ti tại Việt Nam cũng có thể tác động đến khả năng thực hiện chính sách của các giáo viên Anh ngữ tại Việt Nam. Những đặc thù này trong bối cảnh Việt Nam, cùng với các đặc thù của từng vùng miền, nhấn mạnh rằng việc thực hiện chính sách đào tạo ngoại ngữ phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh.

Bài báo “English primary teacher agency in implementing teaching methods in response to language policy reform” được đăng trên tạp chí Current Issues in Language Planning (tạp chí xếp hạng Q1 Scopus với CiteScore 2.0 vào năm 2019) là một phần của một dự án nghiên cứu lớn tìm hiểu quyền tự quyết của giáo viên Anh ngữ trong việc đối phó với chính sách, chương trình đào tạo Anh ngữ, được đăng trong số đặc biệt của tạp chí này về quyền tự quyết trong quy hoạch và chính sách đào tạo ngoại ngữ. Đây là nỗ lực hợp tác giữa Lê Đức Mạnh (Đại học Hàng hải), Nguyễn Thị Mai HoaAnne Burns (Đại học New South Wales), tập trung vào các giáo viên tiếng Anh tiểu học ở một vùng khó khăn tại Việt Nam thực hiện quyền tự quyết của mình trước những thay đổi trong chính sách đào tạo ngoại ngữ.

Khả năng tự quyết không chỉ là một phẩm chất cá nhân của giáo viên, mà được hình thành và phát triển trong những tình huống bất định và mâu thuẫn về phương pháp giảng dạy, và được xem là nhân tố tối quan trọng quyết định hiệu quả của họ trong vai trò mang lại sự đổi mới. Một số nghiên cứu thực chứng cho thấy rằng khả năng tự quyết của giáo viên biểu hiện trong hoàn cảnh họ đưa ra quyết định về mặt sư phạm (nói cách khác, tức là khi họ có quyền hành và lựa chọn hành động hay không hành động dựa trên bối cảnh); nghiên cứu cũng cho thấy rằng khả năng tự quyết của giáo viên chỉ mang tính tạm thời và luôn có thể thay đổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng tự quyết của giáo viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hoá – xã hội: ví dụ như bối cảnh lớp học, quan điểm về việc dạy học, tư tưởng chính trị hoặc cá nhân, hay những mong đợi của giáo viên về học sinh. Hơn nữa, nó cũng có thể bị ảnh hưởng bởi vị thế của giáo viên trong môi trường làm việc và xã hội, văn hóa trường học và các nguồn lực cá nhân. Các yếu tố có thể kìm hãm khả năng tự quyết của giáo viên gồm có quản lý quan liêu, thị trường hóa giáo dục, và khoảng cách cũng như mâu thuẫn giữa điều hướng chính sách và quy định của cơ quan địa phương. 

Trong tất cả các yếu tố trên, mối quan hệ giữa quan điểm cá nhân của giáo viên và khả năng tự quyết của họ được cho là nổi bật vì chúng có tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng sự vận động của cả hai bên: quan điểm của giáo viên về điều kiện trường học có thể kìm hãm khả năng tự quyết của họ, và họ có thể thực hiện khả năng tự quyết của mình khi thực tiễn phản ánh đúng với quan điểm của họ. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ để “đánh thức” khả năng tự quyết của giáo viên, mà cần thiết phải có sự phát triển và xem xét trên phạm vi rộng hơn. Tựu chung lại, giáo viên không tuân thủ theo chính sách một cách thụ động, mà chủ động đáp ứng tuỳ theo năng lực và dựa trên tình hình xung quanh.

Khung lý thuyết nhóm tác giả sử dụng trong nghiên cứu này là lý thuyết định vị (positioning theory). Mặc dù nó chưa được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thực chứng, nhất là trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ, nó có tiềm năng là công cụ hữu ích trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa những gì có thể làm và những gì được phép làm trong bối cảnh các quyết định của giáo viên trong lớp học. Lý thuyết này cho rằng nội tại con người tồn tại khả năng tự quyết, và trong một cơ cấu xã hội nhất định, các chủ thể có khả năng thích nghi với cơ cấu xã hội này, hoặc chống lại nó, hoặc dựng nên một cơ cấu xã hội hoàn toàn mới. Trong bối cảnh này, quyền tự quyết của chủ thể được cho là biểu hiện qua quá trình tái định vị; các thuyết giả theo lý thuyết định vị chia quá trình này thành hai giai đoạn: định vị cơ bản (first-order positioning)định vị thứ cấp (second-order positioning). Trong giai đoạn định vị cơ bản, chủ thể được gán cho một số phẩm chất và thuộc tính nhất định (kỹ năng, đặc điểm tính cách, tính khí, tiểu sử). Các chủ thể có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận vị thế mình được giao; trường hợp có mâu thuẫn về vị thế sẽ nảy sinh việc tái định vị và dẫn đến giai đoạn định vị thứ cấp. Trong giai đoạn này, chủ thể nghi vấn sự phù hợp của định vị cơ bản, cụ thể là sự phù hợp của quyền và nghĩa vụ được giao đối với chủ thể đó. Tóm lại, các chủ thể biểu hiện khả năng tự quyết của mình qua quá trình tái định vị, nhằm nghi vấn và thương thảo vị thế họ được giao. 

Bước phân tích đầu tiên của nhóm tác giả là phân tích văn bản chính sách và chương trình giảng dạy nhằm làm khung tham chiếu cho góc nhìn của giáo viên và đặt quan điểm của họ vào bối cảnh chính sách vĩ mô về phương pháp giảng dạy, cụ thể nhằm có được hiểu biết chung về các quyền và nghĩa vụ của giáo viên theo chương trình mới. Ở cấp độ Trung ương, nhóm tác giả đã phân tích các quyết định, thông tư, văn bản hướng dẫn và chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục ban hành. Ở cấp địa phương, nhóm tác giả phân tích các quyết định và văn bản hướng dẫn ban hành bởi các Sở và các Phòng Giáo dục, cũng như phỏng vấn với hai cán bộ phụ trách giám sát đào tạo ngoại ngữ từ Sở Giáo dục và Phòng Giáo dục thuộc bối cảnh nghiên cứu và một cán bộ lãnh đạo trường. Ở đây, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu tình huống ở khu vực biển đảo nhằm mang lại những kết quả đáng chú ý về khả năng tự quyết trong một bối cảnh thiếu thốn nguồn lực. Sau đó, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) để tìm hiểu góc nhìn của giáo viên có trách nhiệm tuân thủ theo chính sách qua việc phỏng vấn sâu và quan sát lớp học. 

Chương trình thí điểm Tiếng Anh tiểu học chỉ đạo: “coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học và coi giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học”. Tuy nhiên, văn bản không có hướng dẫn thêm về những khái niệm chính như “chủ thể của quá trình dạy học”, “tổ chức” hay “tạo điều kiện”. Ngoài ra, Chương trình cũng chỉ đạo giáo viên áp dụng những hoạt động thân thiện với trẻ em, sử dụng nhiều hoạt động đa dạng, và cung cấp nội dung có ý nghĩa và thú vị cho học sinh để tăng động lực học và tạo cơ hội phát triển kỹ năng giao tiếp. Có thể thấy rằng các hướng dẫn của Bộ về phương pháp giảng dạy thiếu sự cụ thể, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong nhiều bối cảnh khác nhau. Trong tình huống này, văn bản cấp Sở và cấp Phòng nên diễn giải các văn bản cấp Bộ để giáo viên có thể thực hiện chính xác mục tiêu của chính sách. Tuy nhiên, thực tế điều này lại không xảy ra: văn bản hướng dẫn cấp Sở thường chỉ diễn đạt lại theo văn bản cấp Bộ, sau đó được chuyển xuống cấp Phòng và các trường mà không diễn giải gì thêm. Hơn nữa, khi phỏng vấn các cán bộ cấp địa phương và cấp trường, họ đều cho rằng các giáo viên đã hiểu rõ phương pháp giảng dạy từ thời gian học sư phạm và các buổi tập huấn chuyên môn. Về vấn đề thực hiện các hoạt động thân thiện với trẻ em, các cán bộ đều cho rằng họ khuyến khích giáo viên xây dựng bài giảng thú vị với nhiều hoạt động thú vị.

Qua phỏng vấn sâu với hai giáo viên Anh ngữ ở trường tiểu học Thanh An, tỉnh Hải Dương, nhóm tác giả đã xác định ba vị thế nổi trội: là chủ thể thực hiện các hoạt động dạy học thân thiện với trẻ em, là chủ thể gặp khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giảng dạy Tiếng Anh tiểu học, và là chủ thể chống lại việc sử dụng hoạt động thân thiện với trẻ em.

Trên cương vị là người thực hiện hoạt động dạy học thân thiện thiện với trẻ em, cả hai giáo viên đều bày tỏ mong muốn tạo lập một môi trường học tập vui tươi, năng động và thân thiện với trẻ em qua các trò chơi và hình ảnh sinh động. Những lời kể của họ đều cho thấy họ nhận ra giá trị của hoạt động dạy học thân thiện với trẻ em trong lớp học. Tuy nhiên, thực tế quan sát cho thấy rằng hàm lượng sử dụng các hoạt động dạy học này khá thấp, và các hoạt động này thường không phục vụ mục đích phát triển giao tiếp. Thực tế này có thể bắt nguồn từ cách hiểu khác nhau về “hoạt động dạy học thân thiện với trẻ em” so với văn bản chính sách. Kết quả phỏng vấn cho thấy rằng việc sử dụng những hoạt động thân thiện với trẻ em hầu hết là dựa trên những quan điểm cá nhân của họ.

Hai giáo viên được phỏng vấn cũng thể hiện rằng mình đang gặp khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giảng dạy tiếng Anh tiểu học, biểu hiện đầu tiên qua nhận thức của họ về vai trò chuyên môn của mình. Dù đảm nhiệm cả hai trách nhiệm dạy tiếng Anh cho cấp trung học cơ sở (THCS) và cấp tiểu học, nhưng cả hai giáo viên đều đặt trách nhiệm dạy cấp tiểu học là phụ. Ngoài ra, họ không được tập huấn xác đáng về phương pháp giảng dạy cấp tiểu học, hoặc thậm chí còn không hề được tập huấn một chút nào. Nếu có, những buổi tập huấn do Sở Giáo dục tổ chức cũng nhồi nhét rất nhiều nội dung, trọng lý thuyết và không thể áp dụng trong nhiều bối cảnh. Hơn thế nữa, do các vị thầy cô này đã tốt nghiệp đại học gần 20 năm về trước, nên họ không còn tự tin về kiến thức chuyên môn của mình; và môi trường làm việc của họ cũng không hỗ trợ phát triển năng lực ngoại ngữ. Khó khăn cuối cùng của họ đến từ phía một số học sinh có thái độ bất hợp tác trong lớp học. Để vượt qua những khó khăn này, các giáo viên đã dựa vào nhiều nguồn hỗ trợ, từ đồng nghiệp đến các tài liệu tham khảo trực tuyến. Tuy vậy, họ nhất trí rằng họ cần nhiều sự hỗ trợ chuyên môn từ cấp trên để có thể thực hiện đúng mục tiêu chính sách.

Tuy nhận thức được giá trị của hoạt động giảng dạy thân thiện với trẻ em, nhưng hai giáo viên tham gia nghiên cứu cũng thường xuyên chống lại việc thực hiện chúng trong lớp học. Trong khu vực nghiên cứu, có một trường tiểu học nằm ở trung tâm quận được xem là đi đầu trong phương pháp giảng dạy tiếng Anh tiểu học; vì vậy, Phòng Giáo dục quận này đã yêu cầu giáo viên trường trung tâm tổ chức các buổi dạy mẫu định kỳ để hướng dẫn các giáo viên Anh ngữ khác trong vùng. Tuy nhiên, các giáo viên tham gia nghiên cứu lại không hề nhận thấy sự hữu ích của những buổi dạy mẫu này, cho rằng những hoạt động thân thiện với trẻ em sẽ không có tác dụng với học sinh của mình, và thay vào đó là thường xuyên áp dụng các phương pháp dạy người lớn trong lớp học của mình. Kết quả phỏng vấn cho thấy quyết định này đến từ kết quả học tập của học sinh và kinh nghiệm giảng dạy của chính họ. Quan sát lớp học cũng như phỏng vấn cho thấy mặc dù các giáo viên nhận thức được nghĩa vụ áp dụng các biện pháp giảng dạy thân thiện với trẻ em, họ vẫn có quyền tự do chọn phương pháp giảng dạy trong lớp học của mình. Sau khi xem xét nhiều yếu tố như nhu cầu của học sinh, sở thích cá nhân và điều kiện giảng dạy, họ đã quyết định bỏ qua các hoạt động thân thiện với trẻ em và quay lại các phương pháp dạy cấp THCS như họ đã quen.

Chi tiết nghiên cứu: Manh Duc Le, Hoa Thi Mai Nguyen & Anne Burns. (2020). English primary teacher agency in implementing teaching methods in response to language policy reform: a Vietnamese case study. Current Issues in Language Planning, 22(1-2), 199-224.

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn