fbpx

SỰ CẦN THIẾT CỦA TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC TRONG THỜI KỲ HẬU ĐẠI DỊCH

Thời điểm hiện tại có lẽ là một thử thách lớn đối với một nhà truyền thông khoa học. Bệnh dịch, biến đổi khí hậu và sự quan tâm đến những công nghệ trí tuệ nhân tạo và biến đổi gen được thực hiện bởi CRISPR đòi hỏi trách nhiệm cộng đồng, những cuộc thảo luận rõ ràng, công khai và khả năng bị công chúng phản đối. Tuy nhiên, truyền thông khoa học không phải là thử thách gì mới mẻ. Thế kỷ 20 có thể được coi là là một bằng chứng lớn ủng hộ cho truyền thông khoa học vì lợi ích của cộng đồng. 

Kể từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng để thương lượng một thỏa thuận xã hội giữa khoa học và xã hội dân sự. Ở phương Tây, phần lớn các thỏa thuận đều nhấn mạnh việc truyền đạt các kiến thức khoa học. Nhưng mối quan hệ giữa xã hội và khoa học trên toàn thế giới được hình thành như thế nào?

Tranh: Baranovskaya Sasha/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Truyền thông khoa học là gì ?

“Truyền thông khoa học” (science communication) không phải là một cụm từ phổ biến. Trong vòng 50 năm, cái được gọi là “truyền thông khoa học” ở Úc có rất nhiều tên gọi khác ở những quốc gia khác như: “sự phổ biến khoa học” (science popularisation), “Sự hiểu biết cộng đồng” (public understanding), “sự đại chúng hóa” (vulgarisation), “sự hiểu biết của cộng đồng về khoa học” (public understanding of science) và sự nuôi dưỡng cho “một khí chất khoa học”.

Colombia dùng cụm từ “sự sở hữu của xã hội với khoa học và công nghệ”. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng kiến thức khoa học đã được biến đổi thông qua sự ảnh hưởng của xã hội. 

Mỗi một định nghĩa đều đưa cho ta những hiểu biết sâu sắc về vị thế của khoa học và xã hội. Khoa học có thể coi là một phần của xã hội không? Khoa học có được coi trọng không? Những liên hệ với các vấn đề xã hội có làm bớt hay làm tăng thêm nhận thức về khoa học?

Chính phủ giữ vai trò quyết định trong những câu chuyện về truyền thông khoa học. Chính phủ Đức vào năm 1970 đã có bước lùi trong truyền thông khoa học, có lẽ đến từ sự lo lắng về viễn cảnh lặp lại một mối bất hòa giữa kiến thức khoa học và những tuyên truyền của Đức quốc xã. Để thu hẹp khoảng cách này, các quỹ tư nhân ra đời để hỗ trợ cho những chương trình với tham vọng có thể đào tạo ra các nhà báo khoa học trong tương lai. Tại Hoa Kỳ, sự thiếu vắng của một cơ quan trung ương quyền lực đã tạo điều kiện cho sự đa dạng trong lĩnh vực truyền thông khoa học – một lĩnh vực được mô tả là “sống động” hay “hỗn tạp”. 

Trái lại, vương quốc Anh cung cấp những câu chuyện tuyệt vời trong lĩnh vực này. Điều này được minh chứng bởi Báo cáo Bodmer của Hiệp hội Hoàng gia vào năm 1985, trong đó lập luận rằng các nhà khoa học nên coi nhiệm vụ của họ là truyền đạt công việc nghiên cứu cho các công dân của họ.

Dưới thời kỳ cộng sản, nước Nga đã trải qua sự chuyển mình trong khoa học để thực hiện công việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Cụ thề, vào năm 1990, tuần báo khoa học Argumenty i Fakty đã có số lượng phát hành hàng tuần cao nhất trên thế giới: 33.5 triệu bản. Tuy nhiên, sự sụp đổ của liên minh Xô Viết đã ảnh hưởng những cái nhìn và quan điểm khoa học được cung cấp khi mọi người chuyển hướng niềm tin vào chủ nghĩa thần bí. 

Nhiều tài liệu ở các quốc gia khác trên thế giới cũng nhắc đến mối liên hệ giữa kiến thức bản địa và khoa học phương Tây. Cụ thể, Aotearoa New Zealand đang quản lý những tài liệu tập trung vào mtauranga ( tri thức Mori). Sự kết hợp này không phải lúc nào cũng thuận lợi và trơn tru nhưng cái nhìn của tri thức bản địa Mori giờ đây đang được đưa vào thực hành nghiên cứu, được tài trợ nghiên cứu khoa học và nhận được sự hưởng ứng từ cộng đồng.  

Nhà sinh vật học John Perrott chỉ ra rằng Mori “thuộc về” (Tôi thuộc về, nên tôi thuộc về – I belong, therefore I am) trái ngược hoàn toàn với quan điểm của khoa học phương Tây (Tôi nghĩ, do đó tôi thuộc về – I think, therefore I am). Trong Mori whakapapa (nghiên cứu về phả hệ học và vũ trụ học), mối liên hệ giữa đất đai, thực vật và động vật đều quan trọng và tất cả sự sống đều giá trị, cũng như sự kết hợp và nuôi dưỡng. 

Truyền thông khoa học ở Nam thế giới

Mười tám quốc gia được nghiên cứu trong cuốn sách “Science Communicating” có lịch sử thuộc địa tồn tại cách đây không lâu và phần lớn những quốc gia trên nằm ở phía Nam bán cầu. Họ coi sự kết thúc của chế độ thuộc địa là cơ hội để khoa học phát triển và được tiếp nhận. 

Kwame Nkrumah, cựu tổng thống Ghana, đã phát biểu tại cuộc họp của tổ chức thống nhất Châu Phi vào năm 1963 như sau: “Chúng ta sẽ khai thông các đầm lầy, làm sạch những khu vực bị ô nhiễm, hỗ trợ đồ ăn cho những người suy dinh dưỡng, đưa con người thoát ra khỏi dịch bệnh. Ngoài ra, khoa học và công nghệ cũng có thể biến sa mạc Sahara trở thành một cánh đồng rộng lớn với thảm thực vật xanh tươi cho trồng trọt và công nghiệp phát triển.”

Nhiều kế hoạch đã được hình thành cùng niềm tin lạc quan tính khả thi của những kế hoạch đó. Phần lớn các kế hoạch phụ thuộc vào truyền thông khoa học: làm thế nào để đưa khoa học vào những diễn ngôn quốc gia, từ đó thu nhận các ủng hộ của chính trị và ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục khoa học?

Khoa học ở những quốc gia này phần lớn tập trung vào các vấn đề như sức khỏe, môi trường và nông nghiệp. Chiến dịch tiêm phòng vaccine bại liệt ở Nigeria vào năm 2003 đã bị trì trệ khi có hai nhóm ảnh hưởng đến chiến dịch này, Hội đồng tối cao Shari’ah ở Nigeria và Hội đồng ban Kaduna của Imams và Ulamas, cho rằng vaccine chứa chất hại sinh sản và là một phần trong âm mưu triệt sản trẻ em của phương Tây. Chỉ sau khi năm nhà lãnh đạo Hồi Giáo chứng kiến sự thành công của chương trình tiêm phòng vaccine ở Ai Cập, chương trình này mới  công nhận phù hợp với Qur’an. 

Ba ý tưởng quan trọng

Ba ý tưởng có thể rút ra từ những câu chuyện này. Ý tưởng đầu tiên chính là kiến thức cộng đồng là nguồn sức mạnh tối cao. Ở ngoại ô Kenya, số trẻ em sơ sinh được đỡ đẻ bởi những người chưa có kỹ năng dẫn đến tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh. Vậy để tránh tình trạng trên tiếp diễn, thực hiện truyền thông khoa học ở địa phương là điều cần thiết để có thể giải quyết vấn như trên. Baraza (cuộc thảo luận cộng đồng) đã lồng ghép thảo luận những vấn đề liên quan đến sức khỏe con người với các giải pháp xã hội, và đào tạo những người biết đi xe máy ở địa phương để chở các bà bầu đến bệnh viện sinh đẻ để các bà bầu có điều kiện tốt nhất trong quá trình sinh nở. Baraza cũng tổ chức những buổi diễn kịch mô phỏng lại quá trình đi đẻ của một bà bầu, những phản ứng từ các nhà cung cấp dịch vụ y tế, cách sinh đẻ an toàn cho các mẹ bầu và cuối cùng là hướng dẫn cách chăm sóc bà bầu và trẻ sơ sinh sau khi về nhà. 

Ý tưởng thứ hai đó là cách truyền thông khoa học có thể củng cố sự kết hợp giữa khoa học với những niềm tin khác. Khoa học và tôn giáo thường không trái ngược nhau hoàn toàn. Chương Malaysian trong cuốn sách mô tả về những khái niệm của Hồi Giáo: khái niệm halal (sự cho phép) và haram (những điều cấm kị) xác định sự tiếp nhận công nghệ sinh học theo những nguyên tắc của định luật Islamic. Liệu khoa học có mối đe dọa nào đối với năm mục tiêu của maslahah (lợi ích cộng đồng): tôn giáo, đời sống và sức khỏe, thế hệ con cháu, trí tuệ và tài sản không ? 

Ý tưởng thứ ba chính là cách tiếp cận và tranh luận khoa học vì lợi ích của cộng đồng. Truyền thông khoa học đã giúp cho khoa học dễ tiếp cận hơn, những quan điểm và sự phản hồi của cộng đồng trở nên dễ tiếp cận và khả thi hơn. “Sứ mệnh thứ ba” là sự kỳ vọng hay nghĩa vụ mà các nhà nghiên cứu sẽ đóng góp vào sự tăng trưởng, phúc lợi và phát triển của xã hội. Để làm được điều này, nhiều  trường đại học được kỳ vọng thúc đẩy việc trao đổi tri thức và kĩ năng, phổ biến các kết quả và phương pháp khoa học đồng thời khuyến khích các cuộc tranh luận cộng đồng. 

Minh Khuê dịch

Nguồn

Toss Gascoigne & Joan Leach. Science communication needed in a post-COVID world. University World News.

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn