fbpx

SỰ TRỖI DẬY TRONG KHOA HỌC CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia là 4 trong số các đại diện của Đông Nam Á trong danh sách các quốc gia đang lên khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Nature Index. Sự phát triển của khoa học là một trong những yếu tố then chốt góp phần vào tăng trưởng của các quốc gia này. Bài phân tích dưới đây của Nature chỉ ra những thành công cũng như thách thức mà giới khoa học của họ đang phải đối mặt.

Nhờ có Pimchai Chaiyen, người dân ở cộng đồng Mahaphot (phía Bắc Thái Lan) giờ đây đã có thể tận dụng giá trị từ rác thải đồ ăn. Năm 2019, nhà hóa sinh này cùng với nhóm nghiên cứu của cô ở Viện Khoa học và Công nghệ Vidyasirimedhi (VISTEC) đã lắp đặt một ống nhựa lớn chứa một hệ thống phân hủy kỵ khí ở các trường học, nhà văn hóa và một tu viện. Họ chỉ cho người dân cách thức vi sinh phân phân hóa các thức ăn thừa trong ống để sản xuất khí biogas và phân bón.

“Chúng tôi muốn thiết kế một công cụ hữu ích để củng cố kinh tế tuần hoàn. Nếu thức ăn thừa không được xử lý tử tế thì phần lớn chúng sẽ chỉ đổ ra bãi rác, tạo ra khí mê-tan và cacbon dioxide, góp phần vào sự nóng lên toàn cầu.”

Sáng kiến của Chaiyen và nhóm nghiên cứu đại diện cho sự tăng trưởng của nền nghiên cứu tại Thái Lan. Năm 2020, Thái Lan đứng thứ 3, chỉ sau Trung Quốc và Việt Nam, trong danh sách các quốc gia đang lên khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Asian Pacific – APAC) do Nature Index xếp hạng. 

Malaysia có tỉ lệ nhà nghiên cứu là hơn 2200 nhà nghiên cứu trên một triệu người (chỉ xếp sau Singapore với khoảng 6730 nhà nghiên cứu trên một triệu người), và có khối lượng nghiên cứu xếp thứ 3 khu vực Đông và Đông Nam Á theo số liệu của Web of Science tính trong năm 2014-18. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng khối lượng nghiên cứu của Malaysia, Thái Lan và Việt Nam đã tăng gần như gấp đôi trong thập kỷ vừa rồi.

Biểu đồ: Số nhà nghiên cứu trên 1000 dân, số liệu 2017 | Nguồn: Liên hợp quốc

Kết quả trên một phần đến từ sự xoay trục của rất nhiều trường đại học ở khu vực Đông Nam Á từ tập trung vào giảng dạy sang tập trung vào nghiên cứu. Sự thay đổi này là một trong các nỗ lực hướng đến gia tăng thứ hạng trên các bảng xếp hạng quốc tế và thu hút thêm nhiều đầu tư và sinh viên nhập học. Cùng với đó, chính phủ ngày càng công nhận vai trò của R&D trong việc góp phần giúp một quốc gia tăng trưởng, từ đó thiết lập nhiều cơ quan và chính sách hướng đến thúc đẩy nghiên cứu. Ví dụ, Việt Nam đã thành lập Quỹ Phát triển khoa học & công nghệ quốc gia (NAFOSTED) vào năm 2008; Malaysia ban hành một Kế hoạch Chiến lược Giáo dục Đại học Quốc gia 10 năm vào năm 2015; và Thái Lan thành lập một bộ mới – Bộ Giáo dục Đại học, Khoa học, Nghiên cứu và Đổi mới vào năm 2019, hợp nhất các chức năng trước đây được phân chia cho nhiều cơ quan chính phủ khác nhau.

Nhiều quốc gia như Thái Lan, Việt Nam và Indonesia đã ban hành các quy định yêu cầu các học viên sau đại học và các nhà nghiên cứu phải có công bố quốc tế trước khi được cấp bằng Tiến sĩ hoặc được phong các danh hiệu giáo sư. Kết quả là lượng nghiên cứu đầu ra tăng lên nhanh chóng. Nhưng điều này chưa chắc đã tốt. Numpon Mahayotsanun, một thành viên ban điều hành của Học viện các nhà khoa học trẻ Thái Lan nói rằng, họ (các nhà nghiên cứu Thái Lan) đang bị ép về khối lượng chứ không phải chất lượng, và rằng giờ đây việc công bố được gắn với sự công nhận (về danh tiếng) nhiều hơn là hướng tới tính ảnh hưởng, ứng dụng của khoa học. Bên cạnh đó, các chiến lược quốc gia nhìn “có vẻ hay ho trên giấy”, thì thực thi nó thế nào mới là điều quan trọng, Numpon nhận định.

Kiên nhẫn với các chiến lược dài hạn

Numpon là một kỹ sư cơ khí tại Đại học Khon Kaen (Bắc Thái Lan). Ông bày tỏ sự không hài lòng với những thủ tục hành chính rườm rà ở nơi này. “Nếu muốn rời trường đại học để đi gặp một công ty, tôi phải xin ý kiến của sếp tôi. Và sếp tôi lại phải đi xin chữ ký để phê duyệt từ một sếp cấp cao hơn. Tôi đã làm giáo sư 11 năm trời và vẫn đang phải làm việc này.”

Chính phủ dường như không biết rằng tốc độ là rất quan trọng khi làm việc với các doanh nghiệp. Đối với một công ty, “cho tới khi xin được sự phê duyệt đã là quá muộn. Ngành công nghiệp không thể đợi bạn.”

Chaiyen cũng đồng tình với quan điểm của Numpon. Hiện giờ, phần lớn các phát kiến cơ bản của Thái Lan không phải là những thứ có thể “đi một lèo” từ phòng thí nghiệm thành các sản phẩm thương mại. “Chính phủ cần phải kiên nhẫn trong việc hỗ trợ khoa học cơ bản và phát triển công nghệ. Họ cần triển khai một chính sách dài hạn tập trung vào đào tạo con người, giáo dục và môi trường nghiên cứu. Đôi khi nước ta thay đổi chính sách quá thường xuyên.”

Một lý do cho việc thiếu các kế hoạch R&D dài hạn là do sự thay đổi đảng cầm quyền quá thường xuyên. Các quốc gia như Indonesia, Philipin và Việt Nam, nếu xét về mặt dân số, có tiềm năng phát triển R&D cực kỳ lớn. Nhưng sự phát triển này thường bị hãm lại bởi các bất ổn chính trị. Thái Lan đã trải qua 9 thay đổi về quyền lực chỉ trong 20 năm vừa qua. 

Biểu đồ: Thị phần trên mỗi 1 tỷ USD đầu tư cho nghiên cứu, số liệu 2017 | Nguồn: Liên hợp quốc

Đôi khi, chính phủ đưa ra các luật đi ngược lại với việc phát triển một hệ sinh thái khoa học tốt. Chẳng hạn, Indonesia vào năm 2019 đã ban hành một luật để trừng phạt các nhà nghiên cứu nếu như họ vi phạm các điều khoản visa và bày tỏ những “quan điểm bất lợi”. Cảnh báo động đất và sóng thần là một trong những quan điểm bất lợi đó, vì nó có thể gây ra những “hỗn loạn” trong xã hội. Kết quả là rất nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đã không còn hứng thú tới đây để làm nghiên cứu vì lo sợ bị trừng phạt một cách vô lý.

Việc thiếu đầu tư vào R&D cũng là một lý do giải thích cho việc tại sao quốc gia lớn nhất châu Á này lại chưa thể phát triển hết các tiềm năng khoa học của nó. 

Cách tốt nhất để trở nên mạnh hơn là mạnh hơn cùng nhau”

Hợp tác quốc tế cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy vị thế nghiên cứu của một quốc gia. Chỉ số gia trích dẫn của Malaysia là 1.06, trên mức trung bình của thế giới. Nhưng nếu bỏ hết các công bố có cộng tác quốc tế khỏi dữ liệu, con số này chỉ còn 0.76.

Các quốc gia tìm kiếm các cơ hội hợp tác quốc tế phần vì “những nghiên cứu tầm cỡ thế giới thường rất đắt đỏ và nhiều người không có đủ chi phí để đảm đương”. Cả bốn quốc gia được bàn luận ở đây – Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan – tất cả đều có số bài báo hợp tác quốc tế cao, từ 90.1% ở Việt Nam cho tới 98.5% ở Malaysia. Nhưng không có viện/tổ chức/cơ quan nào ở các quốc gia này đứng trong top 100 các cơ sở nghiên cứu có nhiều cộng tác trong khu vực do Nature Index xếp hạng (top này thống trị bởi các cơ sở đến từ Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản và Úc). Điều này cho thấy kết nối giữa các cơ sở kém phát triển còn chưa vững mạnh trong giới nghiên cứu Đông Nam Á. 

Phạm Hùng Hiệp – nhà nghiên cứu về chính sách giáo dục tại Đại học Phú Xuân – nhận định rằng: “Yếu tố quan trọng nhất cho sự gia tăng các công bố quốc tế là việc hợp tác với các học giả nước ngoài.” Các nhà nghiên cứu Việt Nam từng tránh việc công bố trên các tạp chí châu Âu do quan hệ liên minh với Liên Xô. Tình trạng này thay đổi khi Quỹ NAFOSTED – phiên bản Việt Nam của Quỹ Khoa học Quốc Gia Hoa Kỳ – được thành lập vào năm 2008. Kể từ đó, số lượng công bố được chỉ mục trong các danh mục quốc tế đã tăng lên gấp 5 lần (theo số liệu của ISI Clarivate).

Một nghiên cứu của anh và các đồng nghiệp về chủ đề này chỉ ra rằng, các yếu tố then chốt khác ảnh hưởng tới năng lực công bố quốc tế của nhà nghiên cứu là sự hỗ trợ từ các trợ lý và người giám sát. “Khoa học không phải là cá nhân một mình đóng cửa nghiên cứu trong phòng kín. Khoa học là về kết nối với con người, cả về chiều dọc lẫn chiều ngang”. Yvonne Lim, nhà nghiên cứu tại Đại học Malaya (Kuala Lumpur) cũng nhấn mạnh rằng việc tăng cường hợp tác trong nước của mỗi quốc gia cũng không kém phần quan trọng, trong đó cần thúc đẩy việc “các trường đại học làm việc với nhau bên cạnh các quan hệ hợp tác với các đối tác công nghiệp và cộng đồng.” 

Mahayotsanun cũng đồng ý. Ông cho rằng hợp tác trong và giữa các quốc gia trong khu vực là chiều khóa cho sự phát triển và tăng trưởng. “Tôi không nghĩ rằng Thái Lan có thể trở thành một cường quốc [về khoa học] nếu không có sự hỗ trợ của các quốc gia láng giềng, bởi vì chúng ta đều gắn chặt với nhau. Cách tốt nhất để trở nên mạnh hơn là, trở nên mạnh hơn cùng nhau. Mỗi quốc gia đều có bối cảnh, chiến lược riêng biệt và đối mặt với các vấn đề khác nhau. Nhưng quan trọng là chúng ta cần cùng nhau phát triển.”

Linh Chi lược dịch

Sandy Ong (March 17th, 2021). Southeast Asian countries join forces for scientific strength. Nature Index.

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn