fbpx

THÍCH ỨNG HAY BỊ TỤT LẠI PHÍA SAU? CÁC XU HƯỚNG DIỄN BIẾN SINH KẾ KHÁC BIỆT Ở CỘNG ĐỒNG VEN BIỂN VIỆT NAM

Những hệ quả không mong muốn của việc thích ứng một mô hình sinh kế đáng ra là mang lại nhiều lợi ích.

Chuyển đổi từ mô hình đánh bắt cá thủ công sang nuôi trồng thủy hải sản ngày càng phổ biến ở nhiều khu vực, trong đó có các làng chài ở Việt Nam. Đây là một thay đổi cần thiết trước nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy hải sản ngày càng gia tăng và trữ lượng thủy hải sản tự nhiên ngày càng giảm. Tuy vậy, nghiên cứu đã chỉ ra quá trình chuyển đổi này cũng đi kèm với một số vấn đề cho cả những hộ chuyển đổi và không chuyển đổi như gia tăng bất bình đẳng xã hội hay ô nhiễm môi trường.

Alexander Mostov | CC BY-NC-ND 4.0

Nghiên cứu của nhóm tác giả với tác giả chính là Hoàng Trung Thành (có cơ sở liên kết là Đại học Tây Úc và Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu Việt Nam) cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về những biến đổi này ở hai làng chài quy mô nhỏ ở khu vực Phá Tam Giang, Việt Nam. Thay vì phân tích thực trạng hiện tại như phần lớn các nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả đã sử dụng tiếp cận phân tích tổng hợp để nghiên cứu về sự phát triển của các xu hướng sinh kế theo thời gian, đặc biệt tập trung vào những thay đổi từ cuối những năm 1980 tại khu vực này khi mô hình nuôi trồng thủy hải sản bắt đầu được giới thiệu.

Là kết quả của 2 năm thực địa, nghiên cứu mang tên “Moving up or going under? Differential livelihood trajectories in coastal communities in Vietnam” được công bố vào số tháng 2 năm 2021 trên tạp chí World Development. Đây là tạp chí thuộc nhà xuất bản Elsevier có CiteScore 2019 = 7.1, JIF 2019 = 3.869 và xếp hạng Q1 Scopus. 

Mục đích thứ nhất của nghiên cứu là đánh giá và so sánh kết quả phúc lợi giữa các lựa chọn sinh kế khác nhau, cụ thể hơn ở đây là giữa những hộ chuyển đổi (chuyển sang và thích ứng với nuôi trồng thủy sản) và những hộ không chuyển đổi (sinh kế dựa vào đánh bắt) ở hai làng chài. Tác giả xây dựng chỉ số đo lường phúc lợi hộ gia đình (household well-being) được tổng hợp từ các thành phần nhỏ như điều kiện sống, sức khỏe, an ninh, các mối quan hệ xã hội và quyền tự do lựa chọn và hành động. 

Bất chấp sự gia tăng của nuôi trồng thủy sản, đánh bắt thủ công vẫn là hoạt động sinh kế chính ở cả hai làng, thu hút khoảng 40% hộ gia đình. Kết quả từ các phân tích thống kê cho thấy các hộ nuôi trồng thủy sản có chỉ số phúc lợi tổng hợp cao hơn đáng kể so với các hộ đánh bắt, nhưng đồng thời sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các hộ nuôi trồng thủy sản cao cũng hơn đáng kể. Thu nhập trung bình giữa các hộ đánh bắt cá là tương đương giữa hai làng, gián tiếp phản ánh bức tranh đồng nhất về nguồn cá và phương thức đánh bắt trên phá Tam Giang. Tuy nhiên câu chuyện giữa các hộ nuôi trồng thủy hải sản lại không đơn giản như thế. Mặc dù có diện tích nuôi trồng bình quân như nhau, thu nhập của các hộ nuôi trồng ở một thôn gấp ba thôn còn lại, chủ yếu là nhờ mô hình nuôi cá vượt lũ đa canh cho phép họ nuôi cá quanh năm chứ không chỉ mua khô. 

Mục đích thứ hai của nghiên cứu là dựa vào trải nghiệm và câu chuyện cuộc sống của dân làng để phân tích cơ sở hình thành nên sự khác nhau ở khả năng dễ bị tổn thương (vulnerability) và khả năng phục hồi (resilience) theo thời gian. Tác giả nhận thấy có ba xu hướng sinh kế đó là: 1) bần cùng hóa/ngày càng nghèo hơn (marginalizing), 2) tích lũy của cải (accumulative), và 3) dao động lên xuống quanh mức trung bình (fluctuating) tương ứng với lựa chọn thích ứng của các hộ gia đình. 

Cụ thể hơn, nhóm các hộ vẫn tiếp tục sống dựa vào các hoạt động đánh bắt truyền thống được cho là đi vào con đường gia tăng tính dễ bị tổn thương, do những thay đổi trong điều kiện sinh thái và những yếu kém về mặt quản lý hoạt động đánh bắt. Nguồn cá và ngư trường giảm đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi thuốc nổ, làm tăng tốc độ suy thoái sinh thái, tiếp tục giảm trữ lượng cá trầm trọng hơn. Thu nhập thấp tiếp tục làm xói mòn năng lực của hộ gia đình trong việc ứng phó với những thay đổi trong tương lai.

Các hộ nuôi trồng thủy sản rút kinh nghiệm từ đó, áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản mới, sử dụng công nghệ mới để duy trì môi trường ao nuôi phù hợp cho cá phát triển trong mùa mưa. Một số hộ gia đình may mắn có đặc quyền sinh thái có thể khai thác nước mặn dưới đất cho ao nuôi của họ đã áp dụng thành công mô hình chuyên canh, đến nay đã cải thiện đáng kể tài sản, thu nhập và điều kiện sống, và nằm trong nhóm tích lũy tài sản. Các hộ khác cũng cố gắng theo đuổi mô hình nuôi mới này, nhưng kém may mắn thì cuộc sống bấp bênh quanh mức trung bình. 

Mặc dù có điều kiện sống và những trăn trở khác nhau, nhưng cả ba nhóm dân cư đều chia sẻ mối lo ngại về tác hại của các chất ô nhiễm liên quan đến hoạt động nông nghiệp và hệ thống nước thải đô thị đối với chất lượng nước. Người dân đã kiến ​​nghị với chính quyền địa phương để thực hiện các quy định toàn diện và hiệu quả hơn để ngăn chặn các nguồn ô nhiễm đó. Các biện pháp can thiệp đối với những mối quan tâm chung này có thể sẽ tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong việc đồng quản lý và cuối cùng là cải thiện phúc lợi của cộng đồng địa phương.

Trước những hệ quả không mong muốn của việc thích ứng một mô hình sinh kế đáng ra là mang lại nhiều lợi ích, các nhà làm chính sách cần lưu ý những khác biệt trong các lựa chọn sinh kế và các bất bình đẳng đang ngày càng gia tăng ở khu vực này để điều chỉnh các chiến lược sao cho hướng đến chất lượng cuộc sống của toàn bộ cộng đồng ngư dân. Quá trình thiết kế chính sách cần loại bỏ các tiếp cận “one size fits all” (một cách cho tất cả) mà thường chỉ vô hình làm gia tăng lợi ích cho những khu vực giàu có. Cùng với đó, khi tiến hành những giải pháp chuyển đổi trước những thay đổi về môi trường, xã hội, chính trị, cần lưu ý tới những hệ quả không mong muốn mà có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới các bên liên quan.

Cuối cùng, những hộ gia đình đánh bắt cá quy mô nhỏ mặc dù có nhiều kinh nghiệm đối phó với các suy thoái môi trường và sinh thái trong quá khứ, nhưng vẫn còn phải phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên sở hữu chung (common-pool resources). Vì vậy cần các nghiên cứu tương lai để xác định những cách thức giúp nâng cao nhận thức của các bên liên quan về các hành vi có ảnh hưởng dài hạn tới hệ thống và thúc đẩy sự hợp tác giữa các nhóm đối thủ trong quản lý các tài nguyên chung.

Chi tiết nghiên cứu: Thanh, H. T., Tschakert, P., & Hipsey, M. R. (2021). Moving up or going under? Differential livelihood trajectories in coastal communities in Vietnam. World Development, 138, 105219.

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn