fbpx

TOÀN CẢNH ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM

Vai trò của ngành giáo dục đại học trong việc thúc đẩy đổi mới, sáng tạo xã hội đã được nghiên cứu tương đối kỹ lưỡng trên toàn cầu, và việc các cơ sở giáo dục đại học hợp tác với các doanh nghiệp xã hội không còn là hiện tượng lạ. Việc tập trung vào đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động cộng đồng sẽ tạo cho trường đại học một cách tiếp cận toàn diện để hỗ trợ sự phát triển của hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội của một quốc gia. 

Nghiên cứu về hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội ở Việt Nam còn non trẻ. Mặc dù có một số bài báo nghiên cứu về các khái niệm nội hàm trong đổi mới, sáng tạo xã hội ở Việt Nam, các tác giả thường không nhận thấy những hiện tượng này và kết luận rằng nhận thức về đổi mới, sáng tạo xã hội còn thấp; trong khi đó, có rất nhiều bài báo nghiên cứu về doanh nghiệp xã hội và khởi sự doanh nghiệp xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có sự xuất hiện của các trung tâm nghiên cứu và ươm tạo sáng kiến kinh doanh tại các trường đại học ở Việt Nam, chuyên môn tập trung vào đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội. Nổi bật nhất là Trung tâm Đổi mới, Sáng tạo Xã hội và Khởi nghiệp (CSIE) tại Đại học Kinh tế Quốc dân và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Kinh tế (CEDS) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài ra, Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng Thành phố do Sở Khoa học và Công nghệ điều hành cũng đã thành lập Trung tâm Sáng tạo Sài Gòn vào năm 2016.

Như tại các nước Đông Nam Á khác, doanh nghiệp xã hội do giới trẻ lãnh đạo là một cơ hội và thách thức then chốt tại Việt Nam. Ngoài việc giảng dạy, nhiều học giả đã đề xuất những cải cách rộng rãi hơn đối với mô hình đại học Việt Nam, tập trung vào đổi mới xã hội. Họ cho rằng các trường đại học cần phải kết nối với các doanh nghiệp, tham gia vào quy trình chuyển giao công nghệ, giành vốn đầu tư và hợp tác với nhau để bắt kịp với “Cách mạng Công nghiệp 4.0”. Một số học giả khác cho rằng những nỗ lực hợp tác này nhằm tạo ra tri thức mới, cải thiện nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường về cả hai phía. Công tác này suy cho cùng nhằm tạo điều kiện cho các trường đại học thực hiện sứ mệnh xã hội của mình.

Tháng 7 năm 2019, chi nhánh Hội đồng Anh tại Việt Nam đã uỷ thác một nhóm nhà nghiên cứu Việt Nam đến từ Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Hà Nội và Đại học Ngoại thương hợp tác với nhóm nghiên cứu chính tại Đại học Northampton, Anh để thực hiện “Khảo sát Toàn cảnh Giáo dục Đại học và Đổi mới, Sáng tạo Xã hội tại Việt Nam” (Social innovation and higher education landscape in Vietnam). Dự án này bao gồm một khảo sát và một loạt các cuộc phỏng vấn sâu và bàn luận nhóm tập trung với các nhà nghiên cứu, cán bộ trường đại học, và các chuyên gia hành nghề đổi mới, sáng tạo xã hội, nhằm đánh giá hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội tại Việt Nam. Qua đó, nhóm nghiên cứu cũng xác định được những khoảng trống về hiểu biết và năng lực trong công tác nghiên cứu và giảng dạy về đổi mới, sáng tạo, cũng như đưa ra một số đề xuất cho những nhà nghiên cứu và những nhà hoạch định chính sách tại các cơ sở giáo dục đại học.

Những nỗ lực này đã làm nổi bật lên bảy đặc điểm chính về hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội trong giáo dục đại học Việt Nam như sau:

1. Đổi mới, sáng tạo xã hội và kinh doanh xã hội đang nhận được càng nhiều chú ý từ nhiều bên liên quan

Đa số những nhà nghiên cứu đang công tác nghiên cứu và giảng dạy về đổi mới, sáng tạo xã hội và kinh doanh xã hội đang ở bước đầu sự nghiệp, có dưới 5 năm kinh nghiệm công tác và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau (nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực kinh doanh). Hơn nữa, hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội tại Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh, với đa dạng các bên liên quan như các tổ chức phi chính phủ (NGO), các doanh nghiệp xã hội, chính phủ, các nhà đầu tư hướng đến tác động xã hội, các trường đại học, các trung tâm ươm tạo và nghiên cứu (trong và ngoài trường đại học). Tuy vậy, hệ sinh thái này vẫn còn rời rạc, chưa hoàn thiện và phát triển tự phát là chính, và thiếu đi sự kết nối giữa các bên liên quan, một chương trình hành động có chất lượng, và sự tham gia của cộng đồng (nhất là trong việc tìm kiếm những chuyên gia có thể giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học). Vì vậy, hệ sinh thái Việt Nam vẫn cần hỗ trợ trong việc xây dựng mạng lưới và áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng thực hành.

2. Thực trạng nghiên cứu về đổi mới, sáng tạo xã hội và kinh doanh xã hội tại Việt Nam

Khối lượng nghiên cứu và ấn bản về đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội đang tăng trưởng ở mức khá, cả về số ấn bản khoa học và phi khoa học. Giữa hai giai đoạn 2010-2014 và 2015-2019, số ấn bản nghiên cứu về đổi mới, sáng tạo xã hội đã tăng 340% (ngang bằng với xu hướng quốc tế về các bài báo khoa học về chủ đề này), và số ấn bản phi khoa học về chủ đề này tăng gấp 14 lần; 50% số ấn bản phi nghiên cứu được phát hành chỉ trong năm 2019. Những nghiên cứu này được tài trợ vốn từ nhiều nguồn, bao gồm các NGO hay các quỹ tài trợ, nguồn vốn nước ngoài, nhà nước cấp địa phương, và vốn tài trợ nghiên cứu; tuy nhiên, vẫn chưa có nguồn vốn dành riêng cho nghiên cứu đổi mới, sáng tạo xã hội. Có một nguồn vốn đặc định như vậy sẽ hỗ trợ rất nhiều cho phân khúc này, cũng như việc đào tạo kỹ năng nghiên cứu để tăng số lượng và chất lượng các dự án nghiên cứu đổi mới, sáng tạo xã hội. Ngoài ra, việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cũng gặp nhiều cản trở, trong đó có ảnh hưởng lớn nhất là những cản trở về thể chế trong việc thiết kế các trung tâm ươm tạo trong các trường đại học.

3. Thực trạng giảng dạy về đổi mới, sáng tạo xã hội và kinh doanh xã hội tại Việt Nam

Công tác giảng dạy về đổi mới, sáng tạo xã hội và kinh doanh xã hội tại Việt Nam đã trở nên phổ biến hơn nhiều từ năm 2017, và nguồn vốn hỗ trợ những nỗ lực giảng dạy này cũng tăng theo. Trong số các quốc gia được khảo sát, Việt Nam và Hàn Quốc có khối lượng học phần về chủ đề này gia tăng nhanh nhất. Sinh viên cũng có nhiều phản hồi tốt về chủ đề giảng dạy mới này: 80,7% người tham gia khảo sát nhận thấy nhiều thay đổi tích cực trong phản ứng của sinh viên đối với hoạt động đổi mới, sáng tạo xã hội. Tuy nhiên, đa số các học phần liên quan đến đổi mới, sáng tạo xã hội là tự chọn thay vì bắt buộc, và một phần không nhỏ các học phần này chưa qua kiểm định. Hơn nữa, mặc dù phạm vi nội dung của các học phần này đã được mở rộng, chất lượng của chúng lại không được đánh giá cao; công tác đánh giá chất lượng học phần rất sơ sài, đặc biệt trong việc đo lường tác động, và lợi ích sinh viên nhận được từ học phần. Ngoài ra, hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội của Việt Nam thiếu các mạng lưới kết nối mạnh mẽ để có thể áp dụng dạy học theo hướng thực hành.

4. Các nỗ lực hợp tác trong hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội tại Việt Nam

Trong những dự án hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học và các tổ chức cộng đồng, hơn 60% số đó có sự tham gia của các NGO và cơ quan khu vực công, trong khi gần 20% có sự tham gia của các trường học và các doanh nghiệp xã hội. Vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong những dự án này trải đều khắp các vị trí cố vấn, tình nguyện viên, nhân sự thực hiện chính, quản trị và các vị trí khác. Đa phần các dự án này chú trọng vào đào tạo/nâng cao năng lực, hình thành các liên minh/thỏa thuận đối tác/mạng lưới kết nối, và thực hiện dịch vụ. Tuy nhiên, việc xúc tiến hợp tác vẫn gặp nhiều trở ngại: thiếu vốn tài trợ, không có sự tham gia của cộng đồng, không được hỗ trợ về mặt chính sách, không được hỗ trợ từ phía trường đại học. Tựu chung lại, các dự án hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học và tổ chức cộng đồng hiện nay đều dựa trên mạng lưới không chính thống của từng cá nhân riêng lẻ. Xây dựng những mạng lưới kết nối rộng lớn hơn qua hợp tác nghiên cứu và công tác dựa trên quan hệ đối tác sẽ khiến nảy sinh nhiều hoạt động kết nối với cộng đồng hơn, chưa kể bồi dưỡng hiểu biết chung và lòng tin cậy lẫn nhau. Có được sự tham gia của những chuyên gia hành nghề đổi mới, sáng tạo trong việc thiết kế chương trình học, dạy học theo hướng thực hành và đồng nghiên cứu sẽ khiến hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo xã hội trong giáo dục đại học giàu mạnh hơn.

5. Căng thẳng giữa các tầng lớp lãnh đạo và công tác trong tổ chức

Một đặc điểm nổi bật của các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam là sự chi phối mạnh mẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà nước cấp Trung ương. Sau khi Quyết định số 1665 của Thủ tướng được ban hành (thúc đẩy phát triển tinh thần khởi nghiệp và tinh thần kinh doanh xã hội trong sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung), một số trường đại học đã nhanh chóng đưa các nội dung về tinh thần khởi nghiệp vào chương trình học, hoặc tổ chức các cuộc thi để khuyến khích sinh viên tham gia hoạt động khởi nghiệp. Mặc dù ảnh hưởng lớn từ cấp Bộ có thể dẫn đến tốc độ thực hiện chính sách nhanh hơn, nhưng vẫn chưa thể xác định liệu các cơ sở giáo dục đại học có thực hiện hiệu quả hay không. Hơn nữa, lối lãnh đạo từ trên xuống như vậy có nguy cơ khiến ta bỏ mặc những sáng kiến đi từ dưới lên. Khi lòng tin cậy vào nhà nước và chính trị gia đang ở mức thấp, và lòng tin cậy vào các cá nhân và xã hội đang ở mức cao như hiện nay, lối tiếp cận từ dưới lên, đi từ các tổ chức cộng đồng và các NGO, có thể đạt được nhiều thành công hơn trong lâu dài.

Biểu đồ: Phân bố tỉ lệ của các thách thức trong việc thúc đẩy
hoạt động đổi mới, sáng tạo ở Việt Nam

6. Hoạt động đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội phân bố không đều giữa các vùng và các lĩnh vực

Bằng chứng cho thấy các hoạt động đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội tập trung ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam; điều này một phần là do các hoạt động hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo tập trung ở Hà Nội và TP.HCM. Hơn nữa, công tác nghiên cứu và giảng dạy về đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội cũng tập trung tại các cơ sở có chuyên môn về kinh doanh và kinh tế. Trong khi các trường đại học chuyên ngành kinh tế-kinh doanh đã nhanh chóng đưa các nội dung về đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội vào các học phần của mình, các trường không thuộc những chuyên ngành này thiếu sự hiểu biết và năng lực cần thiết để dạy các học phần về những nội dung trên. Tuy nhiên, các trường thuộc nhóm thứ hai đang ngày càng chú ý đến việc giảng dạy về đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội do một số yếu tố, trong đó có nhu cầu chuyển hoá kết quả nghiên cứu ứng dụng thành sản phẩm thương mại, và sự quan tâm ngày càng lớn về vấn đề phát triển bền vững và những Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc.

7. Vẫn còn nhiều quan niệm sai lệch về đổi mới, sáng tạo xã hội, trong khi kinh doanh xã hội đang trở thành chủ đề nóng trong nghiên cứu khoa học

Hiểu biết về đổi mới, sáng tạo xã hội vẫn còn nhiều biến thiên. Những người tham gia nghiên cứu biểu hiện rằng họ không có nhiều hiểu biết về đổi mới, sáng tạo xã hội, nhưng họ hiểu biết nhiều hơn về kinh doanh xã hội, và họ thường nhắc đến kinh doanh xã hội khi được hỏi về đổi mới, sáng tạo xã hội. Một số người tham gia nghiên cứu chỉ ra rằng đa số người Việt có thể hiểu nhầm rằng doanh nghiệp xã hội hoạt động phi lợi nhuận dựa vào quyên góp là chủ yếu, từ đó nảy sinh quan niệm rằng những doanh nghiệp này không hoặc ít bền vững về tài chính, và giảm tính hấp dẫn của kinh doanh xã hội trong mắt các bên liên quan. Sự mơ hồ về định nghĩa này có thể gây ra căng thẳng trong hệ sinh thái giáo dục đại học, cụ thể là giới hạn sự tham gia của các cơ sở giáo dục đại học trong hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo và kinh doanh xã hội. Giới lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học và giới nghiên cứu đang mong chờ nhà nước đứng vào giải quyết vấn đề này, nhưng họ đang bỏ qua vai trò quan trọng của chính họ trong việc định nghĩa đổi mới, sáng tạo xã hội trong bối cảnh Việt Nam qua công tác nghiên cứu của mình.

Truy cập toàn văn báo cáo về Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu vực Đông Á tại: https://www.britishcouncil.org/society/social-enterprise/reports/SIHE

Hoàng Nam, Thu Phương tổng hợp

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn