fbpx

XẾP HẠNG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THẾ GIỚI 2021 THEO TIMES HIGHER EDUCATION: PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Vào ngày 2 tháng 9 năm 2020, tạp chí Times Higher Education đã công bố Bảng xếp hạng Đại học Thế giới 2021, đánh giá hơn 1500 trường đại học đến từ 93 quốc gia. 

Các trường đại học Trung Quốc đã đạt được một số thành tích mang tính lịch sử trong BXH năm nay với một số lĩnh vực vượt lên trên Hoa Kỳ xét về mặt nghiên cứu. Đại học Tsinghua của Trung Quốc trở thành đại học châu Á đầu tiên lọt vào top 20 của BXH. Hoa Kỳ có 8 trường nằm trong top 10, sau khi Đại học California, Berkeley tăng 6 bậc lên vị trí thứ 7. Tuy vậy, các trường khác của Hoa Kỳ nằm ngoài top 200 lại cho thấy các dấu hiệu sụt giảm. Có 141 cơ sở giáo dục mới trong BXH năm nay, với Đại học Paris-Saclay của Pháp có thứ hạng cao nhất (171). Ấn Độ là quốc gia có nhiều cơ sở mới tham gia BXH nhất (14 cơ sở) và tổng cộng có 63 cơ sở nằm trong BXH năm nay. 

Tạp chí Times Higher Education là tạp chí toàn cầu đánh giá các trường đại học chuyên sâu về nghiên cứu trên tất cả các nhiệm vụ chủ đạo của trường: giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và tầm nhìn quốc tế. để đưa ra sự so sánh Bảng xếp hạng đưa ra 13 chỉ số biểu hiện được nhóm thành 5 phương diện: Giảng dạy – Teaching (Môi trường học tập); Nghiên cứu – Research (Tuyển tập, doanh thu và danh tiếng); Trích dẫn – Citations (Mức ảnh hưởng của việc nghiên cứu); Tầm nhìn quốc tế – International outlook (Cán bộ công nhân viên, sinh viên và nghiên cứu) và Thu nhập từ nghiên cứu – Industry income (chuyển giao tri thức). Hãy cùng tìm hiểu sâu hơn về nội dung của các phương diện đánh giá ở phần dưới đây.

Bảng xếp hạng đưa ra 13 chỉ số biểu hiện được nhóm thành 5 phương diện: Giảng dạy – Teaching (Môi trường học tập); Nghiên cứu – Research (Tuyển tập, doanh thu và danh tiếng); Trích dẫn – Citations (Mức ảnh hưởng của việc nghiên cứu); Tầm nhìn quốc tế – International outlook (Cán bộ công nhân viên, sinh viên và nghiên cứu) và Thu nhập từ nghiên cứu – Industry income (chuyển giao tri thức) 

Giảng dạy (Môi trường học tập): 30%

  • Khảo sát về danh tiếng: 15%
  • Tỉ lệ cán bộ công nhân viên trên sinh viên: 4.5% 
  • Tỉ lệ tiến sĩ trên cử nhân: 2.25% 
  • Tỉ lệ tiến sĩ được trao trên cán bộ công nhân viên học thuật: 6% 
  • Thu nhập: 2.25% 

Academic Reputation Survey (cuộc khảo sát về danh tiếng học thuật được triển khai hàng năm) gần nhất được tiến hành trong khoảng tháng 11/2019 đến 02/2020. Cuộc khảo sát đánh giá nhận thức của mọi người về uy tín của các cơ sở đào tạo trong việc giảng dạy và nghiên cứu. Các phản hồi mang tính đại diện về mặt thống kê cho các yếu tố địa lý cùng với tổ hợp học phần học thuật trên toàn cầu. Dữ liệu của năm 2020 kết hợp cùng kết quả khảo sát của năm 2019 cho ra hơn 22,000 phản hồi. 

Cũng như đưa ra cảm nhận về mức độ cam kết của cơ sở đào tạo trong việc nuôi dưỡng thế hệ học giả tiếp theo, tỷ lệ cao các sinh viên nghiên cứu sau đại học cũng đề xuất việc cung cấp giảng dạy ở cấp độ cao nhất để thu hút sinh viên tốt nghiệp và phát triển họ một cách hiệu quả. Chỉ số này được chuẩn hóa để tính đến tổ hợp học phần độc đáo của trường đại học, phản ánh rằng số bằng tiến sĩ được trao thay đổi theo ngành học.

Thu nhập của cơ sở được tính theo số lượng giảng viên và được chuẩn hóa theo ngang giá sức mua (purchasing-power parity – PPP). Nó thể hiện trạng thái tổng quát của một cơ sở và cho thấy một góc nhìn rộng hơn về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất có sẵn cho sinh viên và cán bộ công nhân viên.

Nghiên cứu (khối lượng, doanh thu và danh tiếng): 30%

  • Khảo sát danh tiếng: 18%
  • Doanh thu nghiên cứu: 6%
  • Năng suất nghiên cứu: 6%

Chỉ số nổi bật nhất trong phương diện này xem xét danh tiếng của một trường đại học về chất lượng nghiên cứu so với các trường khác, dựa trên các phản hồi cho Academic Reputation Survey hàng năm của chúng tôi (xem ở trên).

Doanh thu nghiên cứu được tính dựa trên số lượng cán bộ học thuật và được điều chỉnh theo ngang giá sức mua. Đây là một chỉ số gây tranh cãi vì nó có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách quốc gia và tình trạng kinh tế. Tuy nhiên, doanh thu rất quan trọng đối với sự phát triển của nghiên cứu tầm cỡ thế giới, và vì phần lớn doanh thu này phải phụ thuộc vào sự cạnh tranh và được đánh giá bởi phản biện đồng nghiệp (peer-review), các chuyên gia của chúng tôi cho rằng đó là một thước đo hợp lệ. Chỉ số này được chuẩn hóa hoàn toàn để tính đến các lĩnh vực riêng biệt của mỗi trường đại học, xét về thực tế rằng tài trợ nghiên cứu cho các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên thường lớn hơn những khoản tài trợ trao cho nghiên cứu khoa học nghệ thuật, xã hội và nhân văn có chất lượng cao nhất. 

Để đo lường năng suất, chúng tôi lấy số lượng các công bố trên các tạp chí khoa học được chỉ mục trong danh sách Scopus của Elsevier xét trên mỗi học giả, được tính theo quy mô của cơ sở đào tạo và chuẩn hóa theo các chủ đề nghiên cứu. Điều này cho thấy khả năng của trường đại học trong việc công bố các bài báo trên các tạp chí chất lượng có phản biện. Năm vừa qua, chúng tôi cũng đề xuất một phương pháp để công nhận những bài công bố ở lĩnh vực mà các trường đại học tuyên bố rằng họ không có nghiên cứu viên trong lĩnh vực đó.

Trích dẫn (mức ảnh hưởng của nghiên cứu): 30%

Chỉ báo về mức ảnh hưởng của nghiên cứu của chúng tôi xem xét vai trò của các trường đại học trong việc phổ cập kiến ​​thức và ý tưởng mới.

Chúng tôi đánh giá mức ảnh hưởng của nghiên cứu bằng cách sử dụng số lần trung bình các công bố của trường đại học được trích dẫn bởi các học giả khác trên toàn cầu. Trong năm nay nhà cung cấp dữ liệu Thư mục lượng Elsevier của chúng tôi đã xem xét hơn 86 triệu lượt trích dẫn đến 13.6 triệu bài báo, bài phản biện, kỷ yếu hội nghị, sách và các chương sách được xuất bản trong 5 năm. Dữ liệu bao gồm hơn 24.000 tạp chí khoa học được Scopus chỉ mục và tất cả các ấn phẩm được chỉ mục từ năm 2015 đến năm 2019. Các trích dẫn tới các công bố này trong sáu năm từ 2015 đến 2020 cũng được thu thập.

Các trích dẫn giúp cho chúng ta thấy rằng mỗi trường đại học đang đóng góp bao nhiêu vào nền tri thức nhân loại: chúng nói lên được rằng nghiên cứu của ai là nổi bật, đã được các học giả khác chọn lọc và tham khảo và quan trọng nhất là đã được chia sẻ trong cộng đồng học thuật trên toàn thế giới để mở rộng giới hạn hiểu biết của chúng ta, không phân biệt về chuyên ngành. 

Dữ liệu trên được chuẩn hóa để phản ánh sự đa dạng về khối lượng trích dẫn giữa các lĩnh vực khác nhau. Điều này để đảm bảo không mang lại những lợi thế không công bằng cho các cơ sở đào tạo có mức độ hoạt động nghiên cứu cao trong các lĩnh vực có đặc thù lượng trích dẫn cao.

Chúng tôi đã kết hợp các phương pháp đo lường tương đương của thang đo thô về điểm trích dẫn có điều chỉnh theo quốc gia hoặc không điều chỉnh theo quốc gia. 

Trong năm 2015-2016, chúng tôi đã loại trừ các bài báo có hơn 1.000 tác giả vì chúng có tác động không cân xứng đến điểm trích dẫn của một số ít trường đại học. Trong năm 2016-2017, chúng tôi đã thiết kế một phương pháp để hợp nhất các bài báo này lại. Cùng làm việc với Elsevier, chúng tôi đã phát triển một phương pháp đếm phân số để đảm bảo rằng tất cả các trường đại học nơi có các học giả là tác giả của các bài báo sẽ nhận được ít nhất 5% giá trị của bài báo và những trường cung cấp nhiều người đóng góp nhất cho bài báo sẽ nhận được một phần tương ứng đóng góp lớn hơn.

Tầm nhìn quốc tế (cán bộ công nhân viên, sinh viên, nghiên cứu): 7.5%

  • Tỷ lệ sinh viên quốc tế: 2.5% 
  • Tỉ lệ cán bộ quốc tế: 2.5%
  • Hợp tác quốc tế: 2.5%

Khả năng thu hút sinh viên đại học, sinh viên sau đại học và giảng viên từ khắp nơi trên thế giới là chìa khóa thành công của trường đại học trên thị trường thế giới. 

Trong chỉ số quốc tế thứ ba, chúng tôi tính toán tỷ lệ trong tổng số các công bố liên quan của trường đại học có ít nhất một đồng tác giả quốc tế và tính thêm điểm cho số lượng nhiều hơn. Chỉ số này được chuẩn hóa để tính cho tổ hợp lĩnh vực của trường đại học và sử dụng trong cùng thời hạn năm năm như phương diện Trích dẫn.

Thu nhập từ nghiên cứu (chuyển giao tri thức): 2.5% 

Việc hỗ trợ phát triển chuyên ngành bằng các đổi mới, phát minh và cố vấn hiện tại đã trở thành sứ mệnh cốt lõi của cơ sở đào tạo học thuật toàn cầu. Phương diện này tìm cách nắm bắt hoạt động chuyển giao tri thức này bằng cách xem xét doanh thu nghiên cứu mà một cơ sở thu được từ ngành công nghiệp (được điều chỉnh theo ngang giá sức mua) tỷ lệ với số lượng cán bộ công nhân viên học thuật của cơ sở đó .

Phương diện này phản ánh mức độ các doanh nghiệp sẵn sàng chi trả cho nghiên cứu và khả năng thu hút tài trợ của trường đại học trên thị trường thương mại – các chỉ số hữu ích về chất lượng của cơ sở.

Loại trừ 

Các trường đại học có thể bị loại khỏi Bảng xếp hạng Đại học Thế giới nếu họ không có chương trình giảng dạy cho sinh viên chưa tốt nghiệp hoặc nếu năng suất nghiên cứu của họ đạt dưới 1.000 công bố thích đáng trong khoảng từ năm 2015 đến năm 2019 (với số lượng tối thiểu 150 bài một năm). Các trường đại học cũng có thể bị loại trừ nếu 80% kết quả nghiên cứu của họ chỉ thuộc một trong 11 lĩnh vực chủ đề của THE. 

Thu thập dữ liệu 

Các cơ sở đào tạo cung cấp và xác nhận dữ liệu của họ để sử dụng trong bảng xếp hạng. Những trường hợp hiếm hoi khi một điểm dữ liệu cụ thể không được cung cấp sẽ nhập một ước tính chỉ để bảo toàn cho chỉ số bị ảnh hưởng. Nhóm đánh giá thực hiện cách làm này để tránh việc trừ điểm quá nhiều nếu một cơ sở có một giá trị “0” của dữ liệu mà tổ chức đó bỏ qua hoặc không cung cấp thông tin đó, các cơ sở có cung cấp cũng không được tính thêm điểm thưởng. 

Đi đến kết quả cuối cùng 

Việc chuyển từ một loạt các điểm dữ liệu cụ thể sang các chỉ số và cuối cùng là tổng điểm cho một cơ sở đào tạo, đòi hỏi phải khớp các giá trị đại diện cho các dữ liệu khác nhau về cơ bản. Để làm điều này, THE sử dụng tiếp cận tiên chuẩn hóa cho từng chỉ số, sau đó kết hợp các chỉ số theo tỷ lệ được hiển thị kèm bên trên từng phương diện.

Tiếp cận tiêu chuẩn hóa mà THE sử dụng dựa trên việc phân phối dữ liệu trong một chỉ số cụ thể, trong đó tính toán hàm phân phối tích lũy và đánh giá vị trí chỉ số của một cơ sở cụ thể nằm trong hàm đó. 

Đối với tất cả các chỉ số ngoại trừ Academic Reputation Survey, nhóm đánh giá của THE tính toán hàm phân phối tích lũy bằng cách sử dụng Z-scoring. Việc phân phối dữ liệu trong Academic Reputation Survey yêu cầu nhóm đánh giá thêm một thành tố theo hàm số mũ.

Quý vị có thể truy cập bản phương pháp luận đầy đủ của THE tại đây.

Đăng ký Nhận bản tin

error: Content is protected !!