fbpx

KHI THÁCH THỨC TRỞ THÀNH CƠ HỘI: SỰ HÌNH THÀNH KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

Nghiên cứu mới của nhóm tác giả gồm Châu Dương Quang (Đại học SUNY Albany, Hoa Kỳ), Nguyễn Hữu Cương (Đại học Tôn Đức Thắng) và Nguyễn Tiến Trung (Đại học Duy Tân) đã giải thích sự ra đời của hệ thống giáo dục đại học tư thục trong bối cảnh nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, nghiên cứu trên trường hợp của Việt Nam. Bài báo được công bố vào tháng Chín năm nay, trên tạp chí “Studies in Higher Education”. Đây là tạp chí Q1 (2019 JIF = 3) chuyên về các vấn đề giáo dục đại học bao gồm quản lý thể chế, hiệu suất, giảng dạy và học tập. 

Ảnh: Đại học RMIT TP. Hồ Chí Minh

Hơn 30 năm đã trôi qua từ khi Việt Nam thí điểm triển khai mô hình đại học tư thục đầu tiên. Ngày nay, các trường đại học tư thục đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giáo dục quốc dân và chịu trách nhiệm đào tạo khoảng 13% số sinh viên cả nước, tuy nhiên rất ít tài liệu học thuật hiện nay phân tích nghiêm túc chi tiết sự hình thành của khu vực tư thục này ở Việt Nam. Soi chiếu vào các nghiên cứu có trước từ thực tiễn trên thế giới, có hai quan điểm chủ đạo.

Thứ nhất, hầu hết các học giả trước đó đều thiên về lập luận truyền thống về cung cầu rằng các trường đại học tư thục xuất hiện để đáp ứng nhu cầu học đại học ngày càng tăng mà các trường công lập chưa đáp ứng được, hoặc để giải quyết vấn đề thiếu vốn ngân sách nhà nước. Sự hình thành đại học tư thục có thể tự phát như thực tiễn ở các nước dân chủ hoặc một số nhà nước hậu Xô-Viết, hoặc được dẫn dắt bởi nhà nước kiến tạo  như trường hợp của Hàn Quốc, Đài Loan. Ở một số quốc gia, sự hình thành của cơ sở giáo dục đại học tư thục nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, do các tổ chức tôn giáo khởi xướng, và số lượng các cơ sở tư thục này tăng rất nhanh trong thời gian đầu. Một nhóm học giả khác thì lại tập trung nhiều vào yếu tố ngoại cảnh; họ cho rằng sự ra đời của hệ thống đại học tư thục là nhờ vào sức ảnh hưởng của Ngân hàng Thế giới và học thuyết nổi tiếng về lợi suất đầu tư cho giáo dục. 

Tuy nhiên, nhóm các tác giả khẳng định cả 2 lập luận trên đều không phù hợp để giải thích trường hợp của Việt Nam. Hệ thống đại học tư thục tại Việt Nam không ra đời từ yếu tố cung cầu, và cũng không hẳn bị tác động nhiều bởi các tác nhân ngoại lai. Thực ra, nhà nước Việt Nam đã chủ động mở đường cho các cơ sở giáo dục đại học tư thục phát triển. Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào số liệu từ Niêm giám thống kê và đặc biệt là tài liệu chính sách chưa được công bố bằng tiếng Việt từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Cuối cùng, các tư liệu phỏng vấn với các nhà hoạch định chính sách cấp cao và những nhà sáng lập các trường đại học tư thục được sử dụng để củng cố và bổ sung cho các tư liệu lưu trữ trên. 

Trong những năm sau thời kỳ Đổi mới, số liệu cho thấy tỷ lệ chuyển tiếp từ trung học phổ thông lên đại học là rất thấp. Rất dễ để nghĩ rằng cuộc khủng hoảng tuyển sinh đại học này sẽ thúc đẩy nhà nước mở rộng giáo dục đại học. Tuy nhiên, thực tế lại không như vậy. Cũng như các quốc gia theo mô hình Xã hội Chủ nghĩa khác, giáo dục đại học ở Việt Nam tuân theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung: sinh viên tốt nghiệp đều được nhà nước tuyển dụng nên chỉ tiêu tuyển sinh được đặt ra một cách chưa linh hoạt, dựa trên nhu cầu của bộ máy hành chính cũng như ngân sách nhà nước. Sau năm 1975, nhà nước gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, và buộc phải cắt giảm ngân sách cho giáo dục đại học làm giảm chỉ tiêu tuyển sinh của các trường. Đồng thời, cuộc khủng hoảng đã khiến cho nhà nước không thể tiếp tục tuyển dụng được nữa. Đứng trước nguy cơ không có việc làm, sinh viên mất động lực học tập, dẫn tới tỉ lệ học lại và tỉ lệ bỏ học tăng cao, cuối cùng là sụt giảm số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học. 

Tất cả những dẫn chứng đó cùng bác bỏ quan niệm sai lầm nghiêm trọng về nhu cầu giáo dục đại học ngày càng tăng của Việt Nam thời kỳ đó. Nhu cầu giáo dục đại học chỉ thật sự tăng sau Hội nghị Nha Trang năm 1987 khi nhà nước áp dụng các chính sách tuyển sinh mở và giới thiệu một số cơ chế thị trường vào hệ thống giáo dục đại học, tạo cơ hội học tập và hy vọng việc làm cho nhiều đối tượng xã hội hơn trước đây. Mặc dù chủ yếu tập trung vào khu vực đại học công lập, chương trình cải cách của Hội nghị Nha Trang đã thiết lập một lộ trình cần thiết để giáo dục đại học tư thục có thể xuất hiện ở Việt Nam.

Nhóm tác giả cũng cho rằng những ý tưởng về giáo dục đại học tư thục ở Việt Nam xuất hiện một cách tự phát, và không được nhà nước quy định một cách tỉ mỉ chi tiết. Tuy nhiên, có ba điều kiện nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Một là, do yếu tố hệ tư tưởng, các thuật ngữ như “bán công”, “dân lập” được sử dụng thay cho “tư nhân”, “tư thục”. Với điều kiện thứ hai, nhà nước phải có được quyền kiểm soát nhất định đối với các trường đại học tư thục. Điều kiện cuối cùng liên quan đến việc các cơ sở giáo dục tư không được tiếp nhận nguồn vốn từ ngân quỹ nhà nước mà phải dựa trên học phí. Cho đến cuối thập niên 90, hầu hết các trường đại học dân lập được thành lập bởi các giáo sư nổi tiếng trong các trường đại học công lập và các cán bộ nhà nước đã nghỉ hưu; và rõ ràng là trình độ học vấn và ảnh hưởng chính trị của đội ngũ sáng lập là những tiêu chí quan trọng quyết định liệu một trường đại học dân lập có được cấp phép hay không. Mặc dù nhà nước đặt ra ba giới hạn không thể thỏa hiệp, nhưng vẫn chừa ra một hành lang đủ rộng để các chủ thể tư nhân  đề xuất và thực hiện nhiều ý tưởng cải cách. 

Như vậy, kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng, ngược lại với tiến trình ở đa số các nước trên thế giới, các trường đại học tư thục xuất hiện ở Việt Nam khi nhu cầu giáo dục đại học giảm mạnh. Sự cởi mở trong các chính sách cải cách giáo dục đã vực dậy nhu cầu học đại học trong quần chúng và khích lệ sự hình thành các cơ sở đại học tư thục trong một phạm vi tự do nhất định. Như vậy, sự phát triển có thể dự đoán được của đại học tư thục ở Việt Nam là một phần của cải cách kinh tế và chính trị do chính quyền khởi xướng và chỉ đạo. Luận điểm quan trọng xuyên suốt của bài báo là: việc xem xét nhu cầu công và định hướng giáo dục không thể không đặt trong bối cảnh kinh tế chính trị của một quốc gia, đặc biệt là với thể chế đặc biệt như ở Việt Nam. 

Chi tiết nghiên cứu: Chau, Quang, Cuong Huu Nguyen, and Tien-Trung Nguyen. “The emergence of private higher education in a communist state: the case of Vietnam.” Studies in Higher Education (2020): 1-16.

Đăng ký Nhận bản tin

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Để lại thông tin để nhận tư vấn